- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị N - Park Su U"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| _______________ Bản án số: 209/2025/HNGĐ-ST Ngày: 07/8/2025 V/v “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thu Thúy.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Kim Hồng.
Bà Phạm Thị Thà
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Huyền, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Hậu, Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 8 thành phố Hải Phòng, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 477/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2024, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 313/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 58/2025/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 7 năm 2025, giữa:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh ngày 11/10/1993; căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx cấp ngày 25/4/2021.
Địa chỉ: Số B L, khu B, xã K, thành phố Hải Phòng (Trước là số 25 L, khu B, thị trấn K, huyện B, tỉnh Hải Dương).
Người được chị N ủy quyền giao nhận văn bản: Chị Trịnh Thanh H, sinh năm 1998; Địa chỉ: Số H đường N, phường T, thành phố Hải Phòng (Trước là số 88 đường N, phường C, thành phố H, tỉnh Hải Dương).
- Bị đơn : Ông Park Su U, sinh ngày 05/09/1965;
Địa chỉ: A Ấp M, xã S, huyện N, tỉnh Gyeongsang Nam, Hàn Quốc.
1
Các đương sự đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày: Chị và anh Park S Ung được tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại quận S, thành phố S, Hàn Quốc ngày 30/7/2012 và đã ghi vào sổ ghi chú đăng ký kết hôn tại Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương số 395, quyển số 02/2012 theo giấy xác nhận số 1501/STP-XN ngày 05/9/2012 của Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương. Sau khi kết hôn anh chị chung sống tại địa chỉ 184 ấp M, xã S, huyện N, tỉnh Gyeongsang Nam, Hàn Quốc được khoảng một tháng thì nảy sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh chị bất đồng quan điểm dẫn đến to tiếng, xô xát, cãi vã nhau. Đến giữa năm 2013 chị trở về Việt Nam sinh sống. Từ đó chị và anh Park S Ung sống ly thân, không quan tâm, liên lạc với nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Park Su U.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Chị và anh Park Su U không có con chung, không có tài sản chung, nợ chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, chị N ủy quyền cho chị Trịnh Thanh H thay chị giao nhận các văn bản, tài liệu tại Tòa án. Sau khi nhận được các tài liệu, chị H đã thông báo cho chị N biết, chị N vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày.
Theo xác minh tại Phòng Q - Công an tỉnh H (nay là Công an thành phố H) thể hiện: Anh Park Su U nhập cảnh vào Việt Nam 2 lần, xuất cảnh 2 lần, lần xuất cảnh gần nhất ngày 29/8/2012 hiện chưa có thông tin nhập cảnh vào Việt Nam.
Tại phiên tòa: Các đương sự đều vắng mặt, tại đơn xin vắng mặt chị N giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, nguyên đơn thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ
2
phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án. Xử cho chị Nguyễn Thị Ngọc ly H1 anh Park Su U; Về án phí: Chị N phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX) nhận định:
Về tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc cung C địa chỉ của bị đơn anh Park Su U tại A Ấp M, xã S, huyện N, tỉnh Gyeongsang Nam, Hàn Quốc là địa chỉ thể hiện tại đăng ký kết hôn, ngoài địa chỉ trên chị N không cung cấp được địa chỉ nào khác. Tòa án đã gửi hồ sơ ủy thác tư pháp tới Bộ Tư pháp để thực hiện ủy thác theo quy định của pháp luật. Ngày 28 tháng 02 năm 2025 Bộ Tư pháp có công văn số 363/CH-BTP, thể hiện Bộ Tư pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã gửi văn bản ủy thác tới Cục Quản lý Tòa án quốc gia , Đại Hàn Dân Quốc để thực hiện ủy thác đối với anh Park Su U. Đến thời gian xét xử, Tòa án không nhận được kết quả của việc ủy thác tư pháp. Căn cứ vào khoản 3 Điều 474 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án đã tiến hành niêm yết công khai các văn bản của Tòa án trên cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương (nay là Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng) và cổng thông tin điện tử của Đ tại Hàn Quốc. Tuy nhiên hết thời hạn 1 tháng anh Park Su U vẫn không có văn bản trình bày ý kiến. Trong quá trình giải quyết vụ án chị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do vậy, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và điểm b khoản 5 Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt chị N và anh Park S Ung theo quy định.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N và anh Park Su U kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại quận S, thành phố S, Hàn Quốc, ngày 30/7/2012 và đã ghi vào sổ ghi chú đăng ký kết hôn tại Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương năm 2012. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống được một thời gian ngắn thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, ngôn ngữ, văn hóa. Năm 2013 chị N về Việt Nam sinh sống, vợ chồng sống ly thân từ đó. Nay chị N xác định tình cảm vợ chồng không còn và có đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Park Su U. Xét thấy, sau khi kết hôn chị N và anh
3
P Su Ung chỉ chung sống với nhau được một thời gian ngắn và sống ly thân từ năm 2013. Do vậy có căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị N và anh Park Su U đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị N, xử cho chị N được ly hôn anh Park Su U.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Chị N xác định chị và anh Park Su U không có con chung, không có tài sản chung và không có nợ chung, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí, lệ phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và lệ phí ủy thác tư pháp theo quy định của pháp luật.
Vì những lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 147, khoản 3 Điều 153, khoản 2 Điều 479, khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Ngọc ly H1 anh Park Su U.
2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0005157 ngày 02/10/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương (nay là Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng), chị N đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
3. Về lệ phí ủy thác tư pháp: Chị Nguyễn Thị N phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) lệ phí ủy thác tư pháp, được đối trừ số tiền tạm ứng lệ phí 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0002101 ngày 14/11/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương (nay là Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng), chị N đã nộp đủ lệ phí ủy thác tư pháp.
4. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị N được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, anh Park Su U được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn
4
30 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Hải Phòng; - Các đương sự; - THADS thành phố Hải Phòng; - UBND thành phố Hải Phòng; - Lưu hồ sơ, Lưu VP, Lưu Tòa. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa ( Đã ký) Đoàn Thị Thu Thúy 5 |