vanban.org

Bản án 209/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài

TAND tỉnh Nghệ An Tuyên án 08/05/2025 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị M. Chị Trương Thị M được ly hôn anh Nguyễn Quang T.

Về nuôi con chung: 1. Giao 02 con chung là Nguyễn Ngọc Bảo T1, sinh ngày 19/8/2012 và Nguyễn Nguyên K, sinh ngày 29/10/2016 cho chị Trương Thị M được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến đủ 18 tuổi, trưởng thành. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp hôn nhân gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị M. Chị Trương Thị M được ly hôn anh Nguyễn Quang T.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 104 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 122 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 209/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 08.5.2025.
“V/v tranh chấp hôn nhân gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Hải

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Thành và bà Bùi Thị H1oa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Anh -Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải, Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 5 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 61/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 2 năm 2025 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 165/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trương Thị M, sinh ngày: 20/10/1992. Vắng mặt.

Địa chỉ: Xóm H3, xã T2, huyện N, tỉnh Nghệ An.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Quang T, sinh ngày 08/02/1988. Vắng mặt.

Địa chỉ: Xóm H3, xã T2, huyện N, tỉnh Nghệ An. Hiện nay đang làm việc tại Hàn Quốc.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Quốc H, sinh năm: 1966 và bà Bùi Thị H1, sinh năm: 1968. Địa chỉ: Xóm H3, xã T2, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu khác có trong hồ sơ nguyên đơn chị Trương Thị M trình bày:

Chị và anh Nguyễn Quang T đăng ký kết hôn vào ngày 28/06/2011 tại Ủy ban nhân xã N1 (nay là xã T2), huyện N, tỉnh Nghệ An, kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian thì anh T đi làm việc tại Hàn Quốc, do khoảng cách địa lý xã xôi, hai bên không tin tưởng nhau nên vợ chồng phát sinh mâu thuẫn căng thẳng, không thể hàn gắn. Nay chị xét thấy không còn tình cảm với anh T nữa và mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, nên yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.

Về con chung: Chị Trương Thị M và anh Nguyễn Quang T có 02 con chung là Nguyễn Ngọc Bảo T1, sinh ngày 19/8/2012 và Nguyễn Nguyên K, sinh ngày 29/10/2016. Ly hôn, chị M có nguyên vọng được trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cả hai con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do tính chất công việc và đi lại khó khăn nên chị Trương Thị M có đơn đề nghị Tòa án giải quyết xét xử vắng mặt chị.

Bị đơn anh Nguyễn Quang T: Do vợ chồng không liên lạc gì với nhau nên chị Trương Thị M không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh T ở nước ngoài.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã gửi văn bản cho bố mẹ của anh Nguyễn Quang T là ông Nguyễn Quốc H và bà Bùi Thị H1 thông báo về việc Tòa án đang thụ lý, giải quyết vụ án để ông bà thông báo cho anh T và đề nghị anh T nêu ý kiến về yêu cầu khởi kiện của chị M. Ông Nguyễn Quốc H và bà Bùi Thị H1 cho biết: Hiện anh T đã đi lao động, sinh sống, làm việc tại Hàn Quốc thường xuyên thay đổi công việc và thỉnh thoảng liên lạc về với ông bà qua mạng xã hội. Tuy nhiên, ông H và bà H1 không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh T ở nước ngoài cho Tòa án biết. Theo ông H và bà H1 trình bày anh T không có ý kiến gì và đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn theo quy định của pháp luật.

Theo ông H và Bà H1 trình bày thì vợ chồng anh T và chị M có 02 con chung là Nguyễn Ngọc Bảo T1, sinh ngày 19/8/2012 và Nguyễn Nguyên K, sinh ngày 29/10/2016. Hiện nay các cháu T1 và K đang ở với ông bà. Việc ông bà nuôi dưỡng chăm sóc hai cháu T1 và K là tự nguyên và thương các cháu, ông bà không yêu cầu Tòa án xem xét hỗ trợ, cấp dưỡng nuôi các cháu trong thời gian ông bà nuôi các cháu đối với anh T và chị M.

Tòa án cũng đã niêm yết các văn bản tố tụng bao gồm Thông báo về việc thụ lý vụ án, Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm tại nơi cư trú của anh T trước khi đi nước ngoài. Tuy nhiên, anh T không có ý kiến gì và vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tuân thủ đúng các quy định của pháp luật, việc thu thập chứng cứ Tòa án thực hiện đúng các quy định.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trương Thị M; cho chị Trương Thị M được ly hôn anh Nguyễn Quang T.

- Về con chung: Đề nghị giao 02 con chung là Nguyễn Ngọc Bảo T1, sinh ngày 19/8/2012 và Nguyễn Nguyên K, sinh ngày 29/10/2016 cho chị Trương Thị M được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con và về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.

- Về án phí: Chị Trương Thị M phải chịu án phí theo quy định tại điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Trương Thị M hiện cư trú tại Việt Nam làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Quang T hiện cư trú ở nước ngoài; trước xuất cảnh, anh T có địa chỉ cư trú tại Xóm H3, xã T2, huyện N, tỉnh Nghệ An nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại Điều 37, Điều 40, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình.

Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Quang T hiện đang ở Hàn Quốc, không có địa chỉ cụ thể. Ông Nguyễn Quốc H và bà Bùi Thị H1 (là bố đẻ của anh T) đã thông báo cho con trai về việc thụ lý vụ án của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Tòa án cũng đã niêm yết các văn bản tố tụng liên quan theo quy định pháp luật đồng thời yêu cầu ông Nguyễn Quốc H và bà Bùi Thị H1 cung cấp địa chỉ cụ thể của anh T ở Hàn Quốc nhưng ông H và bà H1 không cung cấp được. Tính đến ngày mở phiên tòa xét xử lần thứ hai, Tòa án không nhận được bất cứ văn bản nào của anh T trình bày về yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị M nên được coi như trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết và vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn chị Trương Thị M vắng mặt và có đơn xin xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Quang T vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa vắng mặt các đương sự.

Xét nội dung vụ án và các ý kiến, yêu cầu của đương sự:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị M và anh Nguyễn Quang T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện; có đăng ký kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Sau một thời gian chung sống hạnh phúc thì phát sinh mâu thuẫn. Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng do tính tình không hợp, hai bên xa cách không còn liên lạc, quan tâm nhau, tình cảm vợ chồng tồn tại chỉ là hình thức. Chị Trương Thị M có nguyện vọng được ly hôn với anh T. Xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa chị M và anh T không còn, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng. Vì vậy, nếu kéo dài cuộc hôn nhân này thì mục đích hôn nhân không đạt được. Cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Trương Thị M được ly hôn với anh Nguyễn Quang T là phù hợp Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về con chung: Chị Trương Thị M và anh Nguyễn Quang T có 02 con chung là Nguyễn Ngọc Bảo T1, sinh ngày 19/8/2012 và Nguyễn Nguyên K, sinh ngày 29/10/2016, hiện các cháu đang ở với ông bà nội và mẹ. Hiện nay anh T đang ở nước ngoài không có điều kiện trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và chưa có ý kiến. Chị M đang ở Việt Nam có nguyện vọng được nuôi con chung. Các cháu T1 và K đều có nguyện vọng ở với chị M. Vì vậy, giao con chung là cháu Nguyễn Ngọc Bảo T1 và Nguyễn Nguyên K cho chị Trương Thị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với điều kiện thực tế về việc nuôi con và đúng quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị Trương Thị M không yêu cầu anh Nguyễn Quang T phải cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không xem xét. Ông Nguyễn Quốc H và bà Bùi Thị H1 không yêu cầu anh T và chị M trả tiền công chăm sóc và cấp dưỡng nuôi các cháu nên Tòa án không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Trương Thị M không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Các bên có quyền khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết bằng một vụ án dân sự khác nếu có yêu cầu.

Về án phí sơ thẩm: Nguyên đơn chị Trương Thị M phải chịu án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 104; 122; Điều 123; Điều 127 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 37; Điều 40; Điều 147; Điều 207; Điều 228; Điều 479 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị M. Chị Trương Thị M được ly hôn anh Nguyễn Quang T.

2. Về nuôi con chung:

2.1. Giao 02 con chung là Nguyễn Ngọc Bảo T1, sinh ngày 19/8/2012 và Nguyễn Nguyên K, sinh ngày 29/10/2016 cho chị Trương Thị M được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến đủ 18 tuổi, trưởng thành.

2.2. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Nguyễn Quang T do chị Trương Thị M chưa có yêu cầu.

Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc căn cứ theo quy địnhh của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.

4. Về án phí: Chị Trương Thị M phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo biên lai số 0013587 ngày 29 tháng 11 năm 2024.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Trương Thị M vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Anh Nguyễn Quang T vắng mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật./.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Xuân Thành

Bùi Thị Hoa

Trần Thị Mỹ Hải

Cỡ chữ