vanban.org

Bản án 209/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 26/12/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự:

Xử phạt bị cáo Lê Văn S 01 (một) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày chấp hành án. Xử phạt bị cáo Trương Duy T 01 (một) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Gây rối trật tự công cộng - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 209/2024/HS-ST
Ngày: 26-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC - TỈNH KIÊN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Quách Văn Khánh;

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Phước Lộc;

Ông Nguyễn Ngọc Tài.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Hải Đăng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 164/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 197/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 12 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Lê Văn S, sinh ngày 05/11/1988, tại huyện T, tỉnh Quảng Trị;

Tên gọi khác: Sơn Cá M; Giới tính: Nam;

Nơi đăng ký thường trú: Khu phố 2, phường An Thới, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang;

Chỗ ở: Khu phố 2, phường An Thới, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;

Nghề nghiệp: Ngư phủ; Trình độ học vấn: 10/12;

Con ông Lê Văn H, sinh năm 1946 (còn sống) và bà Phan Thị L, sinh năm 1954 (đã chết);

A, chị, em có 03 người, lớn nhất sinh năm 1976, nhỏ nhất sinh năm 1992;

Vợ Hoàng Thanh P, sinh năm 1993 (đã ly hôn);

Con 01 người, sinh năm 2012;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú;

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Trương Duy T, sinh ngày 12/12/1994, tại thành phố P, tỉnh Kiên Giang;

Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;

Nơi đăng ký thường trú: Khu phố 5, phường An Thới, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang;

Chỗ ở: Khu phố 5, phường An Thới, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;

Nghề nghiệp: Ngư phủ; Trình độ học vấn: 10/12;

Con ông Trương Duy C, sinh năm: 1976 (còn sống) và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1976 (còn sống);

Em có 02 người, lớn sinh năm 1998, nhỏ sinh năm 2020

Bị cáo chưa có vợ, con;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú;

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Hoàng Đức D, sinh ngày 16/3/1999, tại thành phố P, tỉnh Kiên Giang;

Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam;

Nơi đăng ký thường trú: Khu phố 2, phường An Thới, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang;

Chỗ ở: Khu phố 2, phường An Thới, thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;

Nghề nghiệp: Ngư phủ; Trình độ học vấn: 6/12;

Con ông Hoàng Đức H2, sinh năm: 1974 (còn sống) và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm: 1976 (còn sống);

Chị em có 02 người, lớn sinh năm 1991, nhỏ sinh năm 2001;

Bị cáo chưa có vợ, con;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú;

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Thái H3, sinh năm: 1994 (vắng mặt).

Địa chỉ: Khu phố D, phường A, thành phố P, Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ, ngày 09/11/2023, Lê Văn S, Trương Duy T, Hoàng Đức D, Võ Hạt T2 tổ chức ăn, uống bia tại nhà của S ở tổ E, khu phố B, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, S, D, T, T2 cùng đi xuống Cảng Quốc tế A tại tổ D, khu phố A, phường A, mua thức ăn về tiếp tục uống bia. Khi đến khu vực cổng Cảng Quốc tế A, S nhìn thấy Nguyễn Thái H3 đang đứng trong quán cà phê của ông Từ Thanh T3. Do trước đó S có mâu thuẫn với H3 nên S la hét lớn tiếng và nhặt lấy thanh kim loại màu trắng dạng ống vuông có chiều dài 135cm; T nhặt 01 thanh kim loại màu trắng kem, dạng ống tròn có chiều dài 98cm; D không cầm hung khí, tất cả cùng xông vào trong quán rượt đuổi H3. Khi H3 bỏ chạy ra phía sau quán cà phê của ông T3 thì bị nhóm của S đuổi kịp, S và T cũng cầm thanh kim loại đánh liên tiếp vào người Hùng, D dùng tay đánh liên tục nhiều cái vào người Hùng. Khi Lê Minh C1 đi vào can ngăn thì bị S, T, D đuổi đánh nên C1 bỏ chạy. Lúc này, H3 bỏ chạy vào trong Cảng Quốc tế A thì T cầm 01 thanh kim loại, D nhặt 01 viên gạch ống 04 lỗ tiếp tục rượt đuổi theo nhưng không đuổi kịp nên S, T, D bỏ đi, còn H3 được C1 đưa vào Trung tâm Y tế thành phố P điều trị. Hành vi của S, T, D đã gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội tại khu vực Cảng Quốc tế A thuộc tổ D, khu phố A, phường A Đây là khu vực công cộng, có rất đông dân cư sinh sống và nhiều cơ sở kinh doanh, dịch vụ vào thời điểm đêm khuya, làm cho người dân địa phương hoang mang, lo sợ. Ngày 14/11/2023 S, T, D đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố P để đầu thú. Ngày 19/3/2024, Lê Văn S, Trương Duy T, Hoàng Đức D bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố P khởi tố, cấm đi khỏi nơi cư trú.

Hành vi phạm tội của các bị cáo Lê Văn S, Trương Duy T, Hoàng Đức D có tính chất côn đồ. Sau khi phạm tội, các bị cáo S, T, D đều đã ra đầu thú và thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Các bị cáo S, T, D đã khắc phục hậu quả chi phí điều trị cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Thái H3 số tiền 20.000.000 đồng. Riêng bị cáo S được Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh tặng 01 Giấy khen do có thành tích trong phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc.

Về vật chứng:

- 01 USB vỏ bằng nhựa màu đen, nhãn hiệu HOCO, dung lượng 16Gb, đã qua sử dụng, bên trong có chứa dữ liệu điện tử là 05 đoạn video trích xuất từ camera có ghi lại diễn biến liên quan đến vụ án (đã lưu vào hồ sơ vụ án);

- 01 thanh kim loại màu trắng dạng ống vuông có chiều dài 135cm, chiều rộng 3,5cm, 02 đầu có hàn thanh kim loại cong đường kính 01cm, dài 10cm;

- 01 thanh kim loại màu trắng kem, dạng ống tròn có chiều dài 98cm, đường kính 03cm.

- 02 viên gạch ống, loại gạch ống có 04 lỗ, kích thước (18 x 18 x 08)cm.

* Tại bản Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể số 934/KLTTCT-PY, ngày 08/12/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh K, đối với Nguyễn Thái H3, kết luận như sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định: Chấn thương phần mềm vùng đỉnh đầu phải, vùng chẩm và gối phải, đã được điều trị ổn. Hiện không còn dấu vết thương tích.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 00%.

3. Vật gây thương tích: Vật tày.

Bản Cáo trạng số: 158/CT-VKSPQ ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc truy tố các bị cáo Lê Văn S, Trương Duy T và Hoàng Đức D về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Kiểm sát viên tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Lê Văn S, Trương Duy T và Hoàng Đức D về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm d khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 54, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Văn S, Trương Duy T và Hoàng Đức D, mỗi bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu tiêu hủy các vật chứng theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 03/12/2024.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Thái H3 đã nhận đủ tiền bồi thường 20.000.000 đồng, không yêu cầu gì thêm, đề nghị không xem xét.

Tại phiên tòa: Các bị cáo không có ý kiến gì đối với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như bản Cáo trạng đã công bố và không tranh luận gì đối với quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc. Lời nói sau cùng của các bị cáo, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Thái H3 đã được triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của anh H3 không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, nên Hội đồng sơ thẩm vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh H3, theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc truy tố. Như vậy, lời khai nhận tội của các bị cáo là thống nhất với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ trong vụ án và phù hợp với kết luận giám định, có đủ căn cứ xác định:

Do trước đó Lê Văn S có mâu thuẫn với Nguyễn Thái H3, nên vào khoảng 22 giờ, ngày 09/11/2023, Lê Văn S, Trương Duy T, Hoàng Đức D đã sử dụng các loại hung khí nguy hiểm là thanh kim loại, gạch ống, la hét, rượt đuổi, đánh H3 tại khu vực Cảng Quốc tế A, thuộc tổ D, khu phố A, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Khi Lê Minh C1 vào can ngăn thì cũng bị S, T, D đuổi đánh. Hành vi của S, T, D đã gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội tại khu vực Cảng Quốc tế A, thuộc tổ D, khu phố A, phường A, là khu vực công cộng, có rất đông dân cư sinh sống và nhiều cơ sở kinh doanh, dịch vụ vào thời điểm đêm khuya, làm cho người dân địa phương hoang mang, lo sợ. Ngày 19/3/2024, Lê Văn S, Trương Duy T và Hoàng Đức D bị khởi tố, cấm đi khỏi nơi cư trú.

Xét thấy, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, chính trị, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân và dư luận xấu trong xã hội. Do đó, cần phải có mức án đủ răn đe, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo và cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội đối với loại tội phạm này.

Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án là đồng phạm giản đơn, giữ vai trò thực hành, trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội.

Với các tình tiết đã được chứng minh tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã đủ cơ sở kết luận bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc truy tố bị cáo Lê Văn S, Trương Duy T và Hoàng Đức D về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Lê Văn S, Trương Duy T và Hoàng Đức D phạm tội có tính chất côn đồ, theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội các bị cáo Lê Văn S, Trương Duy T và Hoàng Đức D thành khẩn khai báo, khắc phục hậu quả và đầu thú, riêng bị cáo S được tặng thưởng Giấy khen do có thành tích trong phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do các bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đã truy tố, nhưng trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn đối với các bị cáo.

. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy các vật chứng theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 03/12/2024.

. Về trách nhiệm dân sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Thái H3 đã nhận đủ tiền bồi thường 20.000.000 đồng từ các bị cáo, anh H3 không yêu cầu gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: Bị cáo Lê Văn S, Trương Duy T và Hoàng Đức D, mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm d khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 54, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Lê Văn S, Trương Duy T và Hoàng Đức D phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

- Xử phạt bị cáo Lê Văn S 01 (một) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày chấp hành án.

- Xử phạt bị cáo Trương Duy T 01 (một) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày chấp hành án.

- Xử phạt bị cáo Hoàng Đức D 01 (một) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày chấp hành án.

2. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 thanh kim loại màu trắng dạng ống vuông có chiều dài 135cm, chiều rộng 3,5cm, hai đầu có hàn thanh kim loại cong đường kính 01cm, dài 10cm; 01 thanh kim loại màu trắng kem, dạng ống tròn, có chiều dài 98cm, đường kính 03cm; 02 viên gạch ống, loại gạch ống có 04 lỗ, kích thước (18 x 18 x 08)cm.

Các vật chứng nêu trên đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc, theo Quyết định chuyển vật chứng số 153/QĐ-VKSPQ ngày 27/9/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Quốc và biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 03/12/2024.

3. Về trách nhiệm dân sự: Không ai yêu cầu gì thêm, nên không xem xét.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

- Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Lê Văn S, Trương Duy T và Hoàng Đức D, mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ