- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 209/2023/HS-ST Ngày: 07-9-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Lài
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Sơn T;
2. Ông Nguyễn Đăng Thành.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hồng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Phan Tấn Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương và Phòng xét xử trực tuyến Nhà tạm giữ Công an thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tiến hành xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 206/2022/TLST-HS ngày 11 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 211/2023/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T, sinh năm 1995 tại Campuchia; nơi thường trú: ấp 4, xã Vĩnh Châu B, huyện T, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L và bà Trương Thị T; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.
Ngày 25/4/2023, có hành vi “Trộm cắp tài sản”, ngày 02/5/2023 bị bắt tạm giữ đến ngày 08/5/2023 bị khởi tố bị can, bị tạm giam cho đến nay; có mặt.
- Bị hại: Ông Thạch H, sinh năm 1981; địa chỉ: ấp K, xã T, huyện L, tỉnh Sóc Trăng; tạm trú: nhà trọ Vũ Văn N, khu phố Ô, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- Người làm chứng: Anh Rơ Châm T; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn T và Thạch H là bạn với nhau và ở chung tại phòng 11A, nhà trọ Vũ Văn Ninh thuộc khu phố Ô, phường T. Khoảng 08 giờ ngày 25/4/2023, H điều khiển xe mô tô biển số 83P4-105.15 chở T đi xin việc làm trên địa bàn thành phố Tân Uyên nhưng không được. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, H chở T về phòng trọ còn H tiếp tục đi xin việc làm. Tại phòng trọ do không có phương tiện đi lại nên T nảy sinh ý định lấy trộm xe mô tô của H, T lục tìm chìa khóa xe dự phòng để trong ba lô rồi cất chìa khóa trong túi quần. Khoảng 11 giờ cùng ngày, H về lại phòng trọ dựng xe trước cửa rồi rút chìa khóa và vào phòng đi vệ sinh. Trong khi H đi vệ sinh thì T đi ra khỏi phòng dùng ổ khóa móc phía ngoài cửa phòng trọ rồi lấy trộm xe mô tô của H đi tìm việc làm trên địa bàn thành phố Tân Uyên. T không xin được việc nên đến ngày 27/4/2023 về quê tại xã Vĩnh Châu B, huyện T, tỉnh Long An. Đến ngày 02/5/2023, khi T đang điều khiển xe mô tô biển số 83P4-105.15 trên địa bàn xã L, huyện T, tỉnh Long An thì Rơ Châm T là bạn của H phát hiện nên trình báo Công an xã T. Công an xã L đã mời T về trụ sở, đồng thời thông báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tân Uyên tiếp nhận thụ lý giải quyết theo thẩm quyền. Qua làm việc T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội Trộm cắp tài sản của H vào ngày 25/4/2023 tại nhà trọ Vũ Văn N, khu phố Ô, phường T.
Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 21/KL-HĐĐGTS ngày 05/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Tân Uyên kết luận: Xe mô tô biển số 83P4-105.15 có giá trị 16.333.000 đồng.
Bản Cáo trạng số 227/CT-VKS-TU ngày 08/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản”. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:
- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
- Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Đã giải quyết xong.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Thạch H đã nhận lại tài sản là xe mô tô biển số 83P4-105.15, không yêu cầu gì thêm.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Bị cáo không có ý kiến gì trong phần tranh luận. Trong phần trình bày lời nói sau cùng, bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai trái, ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Tân Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Bị hại, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa. Quá trình điều tra, lời khai của họ không mâu thuẫn với lời khai của bị cáo và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đại diện Viện kiểm sát và bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt bị hại, người làm chứng. Xét thấy, việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử, căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người này.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận: Ngày 25/4/2023, tại phòng số 11A, nhà trọ Vũ Văn Ninh thuộc khu phố Ông Đông, phường Tân Hiệp, Nguyễn Văn T đã lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của ông Thạch H lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt xe mô tô biển số 83P4-105.15 có giá trị là 16.333.000 đồng. Do vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo nhận thức được hành vi mình thực hiện là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, thể hiện sự xem thường pháp luật, xem thường quyền sở hữu tài sản của người khác. Do đó, cần có hình phạt nghiêm để răn đe đối với bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi trả cho bị hại. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Xe mô tô biển số 83P4-105.15 là tài sản hợp pháp của ông Thạch H. Ngày 08/5/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tân Uyên đã ra quyết định xử lý vật chứng số 56 trả lại xe mô tô nêu trên cho ông H, là phù hợp.
Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản.
1. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (Một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/5/2023.
2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Đã giải quyết xong.
3. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu gì nên không xem xét, giải quyết.
4. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo; bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nếu vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - PV06, Công an tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố Tân Uyên; - Công an thành phố Tân Uyên; - Chi cục THADS thành phố Tân Uyên; - Bị cáo; người tham gia tố tụng; - Lưu: VT, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Lài |