- Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "Tranh chấp bồi thường thiệt hại do xây dựng nhà liền kề"
- Tòa quyết gì? Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trư ng hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ đ ng ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ngư i được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho ngư i được thi hành án) cho đến khi thi hành…
- Căn cứ chính? Điều 8 Thông tư số 05/2015/TT-BXD Quy định về quản lý chất lượng xâ…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 209/2023/DS-PT Ngày: 28-02-2023 V/v: Tranh ch p bồi thư ng thiệt hại do xây dựng nhà liền kề. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lại Huỳnh Tú
Các Thẩm phán: 1. Bà Vũ Thị Thu Hương
2. Bà Nguyễn Thị Kim Cương
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Từ Thanh Uyên - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Lê Huỳnh Thiện - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 29/2023/TLPT-DS ngày 12 tháng 01 năm 2023 về việc “Tranh chấp bồi thường thiệt hại do xây dựng nhà liền kề”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 311/2022/DS-ST ngày 13/9/2022 của Tòa án nhân dân quận A, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 398/2023/QĐ-PT ngày 08/02/2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà ĐPHM, sinh năm 1974; (Có mặt)
H khẩu thư ng trú: 62 NVT, phư ng ĐK, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa ch liên hệ: 68/23A TQK, phư ng TĐ, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn:
2.1 Ông TAT, sinh năm 1958; (Có mặt)
2.2 Bà NTHN, sinh năm 1960; (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
C ng địa ch : 409/29 Nguy n Oanh, Phư ng 17, quận ò V p, Thành phố Hồ Chí Minh. 3. Người kháng cáo: 3.1 Bà ĐPHM – Nguyên đơn. 3.2 Ông TAT – Bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tóm tắt nội dung án sơ thẩm: Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn bà ĐPHM trình bày: Bà ĐPHM là chủ sở hữu nhà số 67/2/12 Đư ng số 5, Phư ng 17, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh thu c thửa 667, t bản đồ số 13 theo i y chứng nhận quyền sử dụng đ t, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đ t số CS 04941 do Sở Tài nguyên và Môi trư ng Thành phố Hồ Chí Minh c p ngày 20/02/2017. Vào khoảng cuối tháng 9/2019, bà ĐPHM th y thửa đ t liền kề nhà bà ĐPHM là thửa đ t số 588 thu c t bản đồ số 13 tọa lạc tại Đư ng số 5, Phư ng 17, quận A có đổ đ t đá và xây dựng. Vào những ngày 04, 05 tháng 10/2019 tr i mưa. Khi tr i mưa thì bức tư ng nhà bà ĐPHM giáp với thửa đ t 588 thu c t bản đồ số 13 bị th m nước. Đ nh điểm vào ngày 07/10/2019, 09/10/2019 và ngày 10/10/2019, từ lầu 1 đến tầng trệt của bức tư ng liền kề thửa đ t 588 đều bị th m nước nghiêm trọng, thậm chí nước chảy r rả. Bà ĐPHM đã n p đơn đến Ủy ban nhân dân Phư ng 17 và báo cho Thanh tra xây dựng Phư ng 17 biết để xử lý và giải quyết. Tuy nhiên sau khi xuống kiểm tra thực tế thì Thanh tra xây dựng Phư ng 17, quận A có yêu cầu chủ sở hữu thửa đ t số 558 giải quyết nhưng họ trả l i khi nào họ xây dựng xong thì tư ng nhà bà ĐPHM sẽ không th m nước. Ngày 11/10/2019, bà ĐPHM đã n p đơn khiếu nại Phòng Quản lý đô thị quận A về thi công gây thiệt hại cho nhà bà ĐPHM thì được hướng dẫn n p đơn khởi kiện ra Tòa. Ngày 18/10/2019, bà ĐPHM khởi kiện yêu cầu bu c ông TAT và bà NTHN bồi thư ng cho bà ĐPHM số tiền 200.000.000 đồng do việc thi công xây dựng không đảm bảo an toàn gây thiệt hại cho nhà bà ĐPHM. Quá trình giải quyết vụ án, căn cứ Chứng thư giám định xây dựng số 200701511/HCM ngày 15/9/2020 của Công ty cổ phần giám định thẩm định Sài Gòn thì bà ĐPHM xác nhận lại ch yêu cầu ông TAT và bà NTHN bồi thư ng số tiền là 21.509.000 đồng do việc thi công xây dựng không đảm bảo an toàn gây thiệt hại cho nhà bà ĐPHM. Yêu cầu ông TAT và bà NTHN phải chịu chi phí xem xét thẩm định và chi phí giám định. Bà ĐPHM đã ly hôn năm 2004 nên tài sản căn nhà tại địa ch 67/2/12 Đư ng số 5, Phư ng 17, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh là tài sản riêng của bà ĐPHM. Bà ĐPHM khẳng định các chứng cứ đã được giao n p, tiếp cận, công khai trong quá trình giải quyết vụ án. Ngoài những chứng cứ đã thu thập tại hồ sơ, không có chứng cứ nào khác để cung c p cho Tòa án.
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn ông TAT trình bày:
Nhà ông TAT tại địa ch 67/2/8 Đư ng số 5, Phư ng 17, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh được khởi công xây dựng vào ngày 20/9/2019. Khi ông TAT tháo dỡ công trình trên đ t để thi công thì th y có m t số vị trí tư ng nhà bà ĐPHM không được tô trát, chống th m. Em ông TAT là ông NMH và kiến trúc sư có gọi cho bà ĐPHM đến để phối hợp xử lý nhưng bà ĐPHM không đến và sau đó gia đình ông TAT tiếp tục xây dựng. Đồng th i ông TAT cũng đề nghị Thanh tra xây dựng m i bà ĐPHM và ông TAT c ng làm việc để giải quyết sự việc nhưng bà ĐPHM vẫn không hợp tác. Quá trình xây dựng ông TAT tuân thủ đúng gi y phép xây dựng, không gây sụt lún b t đ ng sản liền kề và bảo đảm an toàn xây dựng. Đến nay ngôi nhà đã được hoàn công và c p gi y chứng nhận quyền sở hữu. Do đó việc Công ty thẩm định kết luận nguyên nhân là do ông TAT xây dựng không có biện pháp che chắn an toàn làm ảnh hưởng đến nhà bà ĐPHM là không đúng thực tế và pháp lý. Ông TAT hoàn toàn bác bỏ yêu cầu khởi kiện của bà ĐPHM. Ông TAT khẳng định do khởi công vào th i điểm m a mưa, khi tháo dỡ kiến trúc và tiến hành xây dựng lúc tr i mưa nên việc nhà bà ĐPHM bị th m ướt là t t yếu khách quan. Ông TAT không có nghĩa vụ che chắn nước mưa cho nhà bà ĐPHM để khỏi bị thẩm ướt, do đó các lỗi gây thiệt hại là không phải do công trình nhà ông TAT gây ra. Việc nhà bà ĐPHM bị thẩm nước, ông TAT không biết. Cho đến khi bà ĐPHM khởi kiện tại Tòa án. Nếu bà ĐPHM liên hệ với ông TAT và báo cho ông TAT biết, mà nếu thật sự nhà bà ĐPHM bị th m nước do công trình nhà ông TAT thì ông TAT sẵn sàng xử lý ngay. Ông TAT không đồng ý với kết quả tại Chứng thư giám định xây dựng số 200701511/HCM ngày 15/9/2020 của Công ty cổ phần giám định Sài òn nhưng không có yêu cầu cơ quan nào khác giám định lại.
Ông TAT khẳng định các chứng cứ đã được giao n p, tiếp cận, công khai trong quá trình giải quyết vụ án. Ngoài những chứng cứ đã thu thập tại hồ sơ, không có chứng cứ nào khác để cung c p cho Tòa án.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Nguyên đơn bà ĐPHM trình bày: Yêu cầu ông TAT và bà NTHN bồi thư ng số tiền 21.509.000 đồng do việc thi công xây dựng không đảm bảo an toàn gây thiệt hại cho nhà bà ĐPHM. Yêu cầu ông TAT và bà NTHN phải chịu chi phí xem xét thẩm định và chi phí giám định. Bà ĐPHM trình bày những hình ảnh bà ĐPHM cung c p cho Tòa về quá trình xây dựng căn nhà của ông TAT bà ch áng chừng chứ không nhớ chính xác nên có thể có sự chênh lệch ngày tháng. Th i điểm nhà bị th m nước, nước chảy vào nhà, là hình ảnh công trình bên cạnh xây dựng tầng thứ 2. Trước đó, có mưa to thì nhà bà ĐPHM cũng chưa bị gì. Trước khi ông TAT xây dựng nhà thì bà ĐPHM không nhận được b t cứ liên hệ gì từ phía nhà ông TAT để ghi nhận hiện trạng nhà trước khi xây dựng. Bà ĐPHM khẳng định từ ngày 04/10/2019 đến ngày 10/10/2019 là nhà bà ĐPHM bị th m d t tư ng. Ngày 04/10/2019 đến 05/10/2019 thì hơi th m chứ không th m nhiều. Đ nh điểm ngày 06/10/2019 đến ngày 10/10/2019 do tr i mưa lớn nên nhà bà ĐPHM th m nước, nước chảy vô nhà r t nhiều. Ngày 07/10/2019, khi mưa lớn nhà bị th m d t nhiều thì bà ĐPHM báo có Thanh tra Phư ng xuống làm việc. Ngày 10/10/2019, Thanh tra Phư ng có xuống làm việc và xác nhận nhà bà ĐPHM bị tạt nước và có gọi cho bà ĐPHM bảo là bên nhà bên cạnh sẽ tiến hành khắc phục. Từ ngày 10/10/2019 nhà bà ĐPHM không bị th m nữa. Do ch đợi bên ông TAT khắc phục nhưng không th y nên bà ĐPHM mới khởi kiện ra Tòa. Đ nh điểm nhà bà ĐPHM bị th m d t là ngày 07/10/2019 bà ĐPHM không liên hệ báo cho bên nhà ông TAT biết vì trước đó khoảng ngày 20-22/9/2019, bà ĐPHM không nhớ chính xác, có m t ngư i gọi điện cho bà ĐPHM nói là bà ĐPHM xây dựng l n đ t họ, yêu cầu tháo dỡ nếu không họ sẽ đập bỏ, nói chuyện giọng r t khó chịu, lớn tiếng. Do bà ĐPHM cũng có nhiều nhà cho thuê nên lúc đó cũng không xác định được là nhà nào nhưng vì ngư i gọi điện thoại có thái đ hống hách nên bà ĐPHM có nói nếu đập bỏ thì bà ĐPHM sẽ đi kiện. Sau đó, bà ĐPHM xác định được là căn nhà đang xây kế nhà bà ĐPHM ở địa ch 67/2/12 Đư ng số 5, Phư ng 17, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà ĐPHM có gọi hỏi ngư i thầu xây dựng đã xây dựng căn nhà này của bà ĐPHM thì được biết khi xây dựng căn nhà này, họ có xây m t bức tư ng bên cạnh để khi nhà bên cạnh họ xây thì phải xây tư ng riêng chứ không được chung tư ng với nhà bà ĐPHM, nếu đập bỏ tư ng đó thì không ảnh hưởng gì đến nhà bà ĐPHM nên bà ĐPHM cũng không liên hệ gì cho đến khi ngư i thuê nhà báo cho bà ĐPHM biết là nhà bà ĐPHM bị th m d t r t nhiều. Trước đó bà ĐPHM cho thuê căn nhà này cả năm không bị th m nước gì d tr i có mưa lớn nhưng đến khi nhà ông TAT xây dựng thì bị th m d t r t nhiều. Bà ĐPHM cho rằng do thái đ hống hách, có những l i lẽ thiếu hợp tác của bên nhà ông TAT nên khi xảy ra th m d t bà không báo cho bên nhà ông TAT mà báo cho chính quyền địa phương nh giải quyết, sau đó thì được hướng dẫn khởi kiện ra Tòa. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà ĐPHM cũng đã có thiện chí ch p nhận chịu số tiền thẩm định là 10.000.000đồng và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 2.000.000đồng, ch yêu cầu ông TAT và bà NTHN bồi thư ng số tiền 21.509.000đồng nhưng ông TAT không đồng ý. Do đó, bà ĐPHM vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu ông TAT và bà NTHN bồi thư ng số tiền là 21.509.000 đồng do việc thi công xây dựng không đảm bảo an toàn gây thiệt hại cho nhà bà ĐPHM. Yêu cầu ông TAT và bà NTHN phải chịu chi phí xem xét thẩm định và chi phí giám định. Bị đơn ông TAT trình bày: Ông TAT vẫn giữ nguyên ý kiến không ch p nhận yêu cầu khởi kiện của bà ĐPHM. Ngày 20/9/2019, ông TAT khởi công xây dựng căn nhà địa ch 67/2/8 Đư ng số 5, Phư ng 17, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, thửa đ t số 588, t bản đồ số 13. Trước khi khởi công xây dựng căn nhà thì ông TAT không có m i bà ĐPHM để ghi nhận hiện trạng căn nhà của nhà bà ĐPHM. Khi tiến hành tháo dỡ để xây nhà thì ông TAT th y nhà bà ĐPHM có nhiều chỗ tư ng không có tô trát thì em ông TAT là ông NMH và kiến trúc sư Võ Ngọc Nh t có gọi cho bà ĐPHM đến để phối hợp xử lý nhưng bà ĐPHM không đến và sau đó gia đình ông TAT tiếp tục xây dựng. Việc nhà bà ĐPHM bị th m nước ông TAT không biết. Bà ĐPHM cung c p hình ảnh ngày 30/9/2019 đang làm móng mà 11/10/2019 đã lên được tầng 2 là không thể làm được điều đó, không có cơ sở. Chứng thư thẩm định ông TAT cho rằng không thuyết phục và không có cơ sở vì sự việc xảy ra cả năm mới tiến hành thẩm định là không chính xác, lý do nêu trong thẩm định thư cũng không rõ ràng. Ông TAT bác bỏ hoàn toàn kết quả thẩm định của Công ty cổ phần giám định Sài òn và yêu cầu khởi kiện của bà ĐPHM. Ông TAT không có yêu cầu đơn vị nào khác thực hiện việc giám định lại. Ngoài ra, ông TAT không yêu cầu đưa đơn vị thầu thi công căn nhà của ông TAT vô tham gia tố tụng và không xem xét trách nhiệm của đơn vị thầu thi công. Những thiệt hại liên quan đến công trình xây dựng nhà ông TAT nếu đúng thì ông TAT sẽ chịu hoàn toàn trách nhiệm và không yêu cầu đơn vị thầu thi công liên đới chịu trách nhiệm.
Tòa sơ thẩm đã giải thích cho ông TAT và bà NTHN thu c trư ng hợp được mi n n p tiền án phí qui định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 và ông TAT, bà NTHN phải làm đơn yêu cầu được mi n án phí theo quy định. Ông TAT đã được nghe giải thích và không có ý kiến gì, ông không làm đơn mà khi nào có phản quyết của Tòa án thì ông mới làm đơn.
Bị đơn bà NTHN trình bày: Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ, tổng đạt các văn bản tố tụng cho bà NTHN, bà NTHN có đơn xin xét xử vắng mặt và trình bày đồng ý với ý kiến của bị đơn ông TAT, không đồng ý toàn b yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 311/2022/DS-ST ngày 13/9/2022 của Tòa án nhân dân quận A, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên:
1. Ch p nhận m t phần yêu cầu khởi kiện của bà ĐPHM yêu cầu bồi thư ng thiệt hại do xây dựng nhà liền kề.
Bu c ông TAT và bà NTHN liên đới trách nhiệm bồi thư ng cho bà ĐPHM số tiền 17.207.200đ (Bằng chữ: Mư i bảy triệu hai trăm lẻ bảy nghìn hai trăm đồng).
2. Về chi phí giám định và xem xét thẩm định tại chỗ: Bu c ông TAT và bà NTHN liên đới trách nhiệm hoàn trả cho bà ĐPHM số tiền chi phí giám định và xem xét, thẩm định tại chỗ là: 9.600.000đồng (Bằng chữ: Chín triệu sáu trăm nghìn đồng).
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông TAT và bà NTHN có trách nhiệm liên đới n p án phí dân sự sơ thẩm là 860.360đ (Bằng chữ: Tám trăm sáu mươi nghìn ba trăm sáu mươi đồng).
Bà ĐPHM phải chịu án phí dân sự sơ thầm là: 300.000đồng (Bằng chữ: Ba trăm nghìn đồng). Được kh u trừ vào tiền tạm ứng án phí đã n p là 5.000.000đ theo biên lại thu số AA/2019/0001968 ngày 06 tháng 11 năm 2019 của Chi Cục Thi hành án dân sự quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà ĐPHM được nhận lại số tiền 4.700.000đ (Bằng chữ: Bốn triệu bảy trăm nghìn đồng). Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền và nghĩa vụ thi hành án, quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật. Ngày 27/9/2022, bà ĐPHM là nguyên đơn có đơn kháng cáo m t phần bản án dân sự sơ thẩm. Ngày 27/9/2022, ông TAT là bị đơn có đơn kháng cáo toàn b bản án dân sự sơ thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm: Bà ĐPHM trình bày nội dung kháng cáo, căn cứ của việc kháng cáo: Theo quy định thì khi ông TAT, bà NTHN làm đơn xin c p gi y phép xây dựng thì ông TAT, bà NTHN ch làm đơn cam kết việc xây dựng không thiệt hại và ảnh hưởng đối với các nhà liền kề. Việc cam kết ch từ m t phía của ông TAT, bà NTHN mà không có ý kiến của các chủ nhà liền kề. Ngay sau khi nhà bà xảy ra sự cố và bị thiệt hại, bà đã trực tiếp liên hệ với các cơ quan chức năng để báo và yêu cầu giải quyết nên bà không có lỗi khi thiệt hại xảy ra mà lỗi hoàn toàn từ phía ông TAT, bà NTHN. Do đó, bà đề nghị Tòa án c p phúc thẩm sửa m t phần bản án sơ thẩm liên quan đến việc bà phải chịu 20% thiệt hại và ch p nhận toàn b yêu cầu khởi kiện của bà; bu c ông TAT, bà NTHN phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thư ng toàn b thiệt hại cho bà theo Chứng thư iám định xây dựng số 200701511/HCM ngày 15/9/2020 của Công ty cổ phần giám định thẩm định Sài òn. Ông TAT trình bày nội dung kháng cáo, căn cứ của việc kháng cáo: Theo Chứng thư iám định xây dựng số 200701511/HCM ngày 15/9/2020 của Công ty cổ phần giám định thẩm định Sài òn đã dẫn chứng ông xây dựng công trình không đảm bảo an toàn gây thiệt hại cho nhà bà ĐPHM. Đây là kết luận không khách quan, không có cơ sở và không đúng với thực tế vụ việc. Bởi lẽ, từ th i điểm th m tư ng nhà bà ĐPHM đến khi công ty thực hiện việc giám định là gần tròn 01 năm (từ tháng 10/2019 đến tháng 9/2020) và trong quá trình giám định thì phía công ty không xem xét các chứng cứ là hình ảnh do ông chụp lại hiện trư ng nhà của bà ĐPHM trước khi ông xây dựng công trình. Mặt khác, công ty không xác định được nguyên nhân cụ thể, tác nhân cụ thể gây ra mà ch nhận xét chung chung. Trong quá trình xây dựng, ông đã yêu cầu đơn vị thi công che chắn công trình, không làm rơi vãi vật liệu xây dựng, đảm bảo các biện pháp an toàn khi xây dựng, cụ thể là qua các biên bản kiểm tra của Thanh tra phư ng, quận đều thể hiện n i dung công trình xây dựng nhà của ông không vi phạm các quy định tại Nghị định số 139/2017/NĐ-CP ngày 27/11/2017. Việc Tòa án c p sơ thẩm viện dẫn Điều 111 Luật xây dựng 2014, Điều 174 B luật Dân sự 2015; khoản 1,2 Điều 8 Thông tư 05/2015/TT-BXD ngày 30/10/2015 của B Xây dựng và Viện kiểm sát ch nêu ra cơ sở pháp lý là Điều 605 B luật Dân sự 2015 để xác định ông là ngư i có trách nhiệm bồi thư ng thiệt hại cho nguyên đơn là không đúng với thực tế xảy ra. Bởi vì trước khi xây dựng công trình, ông đã phát hiện nhiều mảng tư ng của nhà bà ĐPHM chưa được tô, trác, chống th m, có m t số vữa bê tông ố phần móng nhà bà ĐPHM tràn qua phần đ t của ông (có ảnh chụp hiện trạng). Khi đó, em trai ông là NMH đã gọi điện báo cho bà ĐPHM và yêu cầu bà ĐPHM đến xác nhận hiện trạng nhưng bà ĐPHM không đến. Sau đó, ông có nh Thanh tra xây dựng quận A xuống nhà bà ĐPHM để làm việc trực tiếp nhưng bà ĐPHM không đến. Điều này chứng tỏ ông có thông báo cho bà ĐPHM trước khi xây dựng công trình chứ không phải là không thông báo như Tòa án c p sơ thẩm đã nhận định.
Nhà bà ĐPHM bị th m tư ng là do giai đoạn đó tr i mưa lớn và liên tục nhưng nhà bà ĐPHM lại không chống th m và có m t số vị trí tư ng chưa được tô trát. Như vậy, việc tư ng nhà bà ĐPHM bị th m nước là do nguyên nhân khách quan là th i tiết. Pháp luật cũng không quy định việc phải che chắn mưa cho công trình xây dựng liền kề khi xây dựng công trình của ông. Trong quá trình xây dựng, ông đã ch p hành theo đúng gi y phép xây dựng và các quy định tại Thông tư 15/2016/TT-BXD ngày 30/6/2016 của B Xây dựng nên ông không hoàn toàn không có lỗi và không có trách nhiệm bồi thư ng thiệt hại việc tư ng nhà bà ĐPHM bị th m nước.
Do đó, ông đề nghị Tòa án c p phúc thẩm hủy bản án dân sự sơ thẩm số 311/2022/DS-ST ngày 13/9/2022 của Tòa án nhân dân quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Nguyên đơn không rút yêu cầu khởi kiện, ngư i kháng cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Các đương sự không có phương án hòa giải.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trình bày ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm như sau:
Thẩm phán và H i đồng xét xử thực hiện đúng các quy định của B luật Tố tụng dân sự, các đương sự ch p hành đúng pháp luật.
Về hình thức: Đơn kháng cáo của bà ĐPHM và ông TAT làm trong th i hạn luật định, hợp lệ.
Về n i dung: Đề nghị H i đồng xét xử căn cứ khoản 01 Điều 308 B luật Tố tụng dân sự năm 2015 tuyên xử: Không ch p nhận phần kháng cáo của bà ĐPHM, ông TAT và giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 311/2022/DS-ST ngày 13/9/2022 của Tòa án nhân dân quận A theo n i dung phát biểu tại phiên tòa phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, H i đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: [1.1] Đơn kháng cáo của bà ĐPHM và ông TAT làm trong th i hạn luật định, hợp lệ nên được ch p nhận. [1.2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Bị đơn bà NTHN có đơn yêu cầu xin xét xử vắng mặt. Do vậy, H i đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà NTHN theo quy định tại Điều 227, Điểu 228 của B luật Tố tụng dân sự năm 2015. [2] Về n i dung kháng cáo của bà ĐPHM, ông TAT: [2.1] Theo Chứng thư iám định xây dựng số 200701511/HCM ngày 15/9/2020 của Công ty cổ phần giám định thẩm định Sài òn (SA ONAP) kết luận nguyên nhân gây tổn th t tư ng bị ố mốc, bong tróc sơn nhà số 67/2/12 Đư ng số 15, Phư ng 17, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh như sau: “Theo tìm hiểu hồ sơ tài liệu, lời khai, các thông tin thu thập liên quan và khảo sát thực tế tại khu vực xung quanh nhà số 67/2/12 Đường số 05, Phường 17, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, công trình được xây dựng trên nền đất ổn định. Trong khu vực này không có biến động về địa chất. Cho đến thời điểm năm 2020 nhà giáp ranh liền kề nhà số 67/2/12 Đường số 5, Phường 17, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh thi công xây dựng không đảm bảo kỹ thuật, không có biện pháp an toàn như che chắn cho công trình liền kề, nó làm ảnh hưởng trực tiếp đến tường nhà giáp ranh liền kề nhà số 67/2/12 Đường số 5, Phường 17, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, dẫn đến những tổn thất hư hỏng tường như đã mô tả ở trên. Nguyên nhân trên đã làm ảnh hưởng trực tiếp đến nhà số 67/2/12 Đường số 5, Phường 17, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, làm tổn thất hư hỏng tường bị ố mốc, bong tróc sơn”. Như vậy, theo kết luận trên thì nguyên nhân gây tổn th t hư hỏng tư ng bị ố mốc, bong tróc sơn nhà số 67/2/12 là do khi thi công xây dựng nhà giáp ranh liền kề nhà số 67/2/12 không đảm bảo kỹ thuật, không có biện pháp an toàn như che chắn cho công trình liền kề. [2.2] Tại khoản 2 Điều 111 của Luật Xây dựng 2014 quy định về yêu cầu đối với thi công xây dựng công trình như sau: “Bảo đảm an toàn cho công trình xây dựng, người, thiết bị thi công, công trình ngầm và các công trình liền kề, có biện pháp cần thiết hạn chế thiệt hại về người và tài sản khi xảy ra sự cố gây mất an toàn trong quá trình thi công xây dựng”. Tại khoản 1, khoản 2 Điều 8 của Thông tư số 05/2015/TT-BXD ngày 30/10/2015 của B Xây dựng quy định về quản lý ch t lượng xây dựng và bảo trì nhà ở riêng lẻ thì: “…1. Trước khi thi công xây dựng, chủ nhà chủ động liên hệ với các chủ sở hữu hoặc người quản lý, sử dụng công trình liền kề, lân cận để kiểm tra hiện trạng và ghi nhận các khuyết tật của công trình liền kề, lân cận (nếu có). Chủ sở hữu hoặc người quản lý, sử dụng công trình liền kề, lân cận có trách nhiệm phối hợp với chủ nhà để kiểm tra, ghi nhận hiện trạng công trình làm căn cứ giải quyết các tranh chấp (nếu có).
2. Trong quá trình thi công xây dựng, nếu công trình liền kề, lân cận có dấu hiệu bị lún, nứt, thấm, dột hoặc có nguy cơ sập đổ do ảnh hưởng của việc xây dựng nhà ở gây ra, chủ nhà phải phối hợp với chủ sở hữu hoặc người quản lý, sử dụng công trình liền kề, lân cận để kiểm tra, xác định nguyên nhân và thống nhất biện pháp khắc phục. Trường hợp các bên không thống nhất thì tranh chấp phát sinh được giải quyết theo quy định của pháp luật...".
Theo các quy định pháp luật nêu trên thì trước khi thi công xây dựng ông TAT, bà NTHN phải chủ đ ng liên hệ với bà ĐPHM để ghi nhận các khuyết tật của công trình liền kề; trong quá trình thi công xây dựng nếu có d u hiệu lún, nứt, th m d t phải phối hợp với chủ sở hữu của công trình liền kề để xác định nguyên nhân và thống nh t biện pháp khắc phục. Mặc d pháp luật quy định rõ về nghĩa vụ của ông TAT, bà NTHN nhưng ông TAT, bà NTHN đã không thực hiện đúng, không tôn trọng quy tắc xây dựng theo quy định tại Điều 174 của B luật Dân sự năm 2015. Do đó, ông TAT, bà NTHN phải có nghĩa vụ bồi thư ng thiệt hại theo quy định tại Điều 605 B luật Dân sự năm 2015.
Xét kháng cáo của bà ĐPHM cho rằng thiệt hại xảy ra là do lỗi hoàn toàn từ phía ông TAT, bà NTHN; H i đồng xét xử nhận th y: Bà ĐPHM xác nhận từ ngày 04/10/2019 đến ngày 10/10/2019 nhà bà ĐPHM bị th m tư ng, đ nh điểm là ngày 07/10/2019 nhưng vì trước đó có ngư i nhà bên nhà ông TAT gọi điện thái đ , l i lẽ hống hách, thậm chí đe dọa nên bà ĐPHM không muốn báo cho ông TAT biết mà nh chính quyền can thiệp dẫn đến nhà bà ĐPHM tiếp tục bị th m d t từ ngày 07/10/2019 đến ngày 10/10/2019. Lẽ ra khi bắt đầu xảy ra thiệt hại, nếu phía bà ĐPHM c ng phối hợp và thông báo cho phía phía ông TAT, bà NTHN biết để các bên đưa ra phương án khắc phục thì sẽ giảm thiếu tối đa thiệt hại xảy ra. Mặt khác, pháp luật cũng quy định rõ chủ sở công trình liền kề là bà ĐPHM cũng có trách nhiệm phối hợp với chủ nhà để kiểm tra, ghi nhận hiện trạng công trình làm căn cứ giải quyết các tranh ch p (nếu có) nhưng bà ĐPHM không phối hợp thực hiện. Do đó, Tòa án c p sơ thẩm xác định bà ĐPHM có m t phần lỗi và chịu thiệt hại là 20% chi phí khắc phục, sửa chữa nhà với số tiền 4.301.800 đồng và ông TAT, bà NTHN chịu 80% chi phí khắc phục, sửa chữa nhà số với số tiền 17.207.200 đồng là có cơ sở.
Xét kháng cáo của ông TAT cho rằng kết luận tại Chứng thư iám định xây dựng số 200701511/HCM ngày 15/9/2020 của Công ty cổ phần giám định thẩm định Sài òn (SA ONAP) về nguyên nhân gây tổn th t tưởng bị ố mốc, bong tróc sơn nhà số 67/2/12 Đư ng số 15, Phư ng 17, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh là không khách quan, không đúng với thực tế và ông TAT không đồng ý với kết luận này. H i đồng xét xử nhận th y kết luận giám định trên được thực hiện bởi cơ quan chuyên môn về giám định và tại biên bản làm việc ngày 02/11/2020 thì Tòa án c p sơ thẩm cũng đã thông báo, giải thích cho ông TAT về kết quả của Chứng thư giám định xây dựng số 200701511/HCM, ông TAT không đồng ý với kết quả giám định nhưng cũng không yêu cầu cơ quan chức nào khác để giám định lại. Do đó, Tòa án c p sơ thẩm căn cứ vào kết luận quả giám định theo Chứng thư iám định xây dựng số 200701511/HCM ngày 15/9/2020 của Công ty cổ phần giám định thẩm định Sài òn làm cơ sở giải quyết vụ án là có căn cứ, kháng cáo của ông TAT là không có cơ sở. [2.5] Từ những lý lẽ đã viện dẫn, H i đồng xét xử không ch p nhận kháng cáo của bà ĐPHM, ông TAT; đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ph hợp nên ch p nhận và giữ nguyên bản án sơ thẩm theo hướng phân tích trên. [3] Về án phí phúc thẩm: Do giữ nguyên bản án sơ thẩm nên bà ĐPHM, ông TAT phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 148 B luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên, ông TAT là ngư i cao tuổi và có đơn xin mi n n p tiền án phí nên được mi n n p án phí theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 B luật Tố tụng dân sự 2015; Căn cứ khoản 6 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144, Điều 147; Điều 157; Điều 158; Điều 161; Điều 162; Điều 227; Điều 228; Điều 264; Điều 266; Điều 271; khoản 1 Điều 273 B luật tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 174, Điều 357, Điều 468, Điều 585, Điều 589, Điều 605 B luật Dân sự năm 2015; Căn cứ khoản 2 Điều 111 của Luật xây dựng năm 2014; khoản 1, 2 Điều 8 Thông tư số 05/2015/TT- BXD ngày 30/10/2015 của B xây dựng quy định về quản lý ch t lượng xây dựng và bảo trì nhà ở riêng lẻ; Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc h i; Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); Không ch p nhận kháng cáo của bà ĐPHM – nguyên đơn. Không ch p nhận kháng cáo của ông TAT – bị đơn. iữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 311/2022/DS-ST ngày 13/9/2022 của Tòa án nhân dân quận A, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên như sau: 1. Ch p nhận m t phần yêu cầu khởi kiện của bà ĐPHM yêu cầu bồi thư ng thiệt hại do xây dựng nhà liền kề. Bu c ông TAT và bà NTHN liên đới trách nhiệm bồi thư ng cho bà ĐPHM số tiền 17.207.200 (Mư i bảy triệu hai trăm lẻ bảy nghìn hai trăm) đồng. 2. Về chi phí giám định và xem xét thẩm định tại chỗ: Bu c ông TAT và bà NTHN liên đới trách nhiệm hoàn trả cho bà ĐPHM số tiền chi phí giám định và xem xét, thẩm định tại chỗ là 9.600.000 (Chín triệu sáu trăm nghìn) đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trư ng hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ đ ng ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ngư i được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho ngư i được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, t t cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi su t quy định tại khoản 2 Điều 468 của B luật Dân sự năm 2015.
3. Về án phí:
3.1. Án phí dân sự sơ thẩm:
Ông TAT và bà NTHN có trách nhiệm liên đới n p án phí dân sự sơ thẩm là 860.360 (Tám trăm sáu mươi nghìn ba trăm sáu mươi) đồng.
Bà ĐPHM chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng. Được kh u trừ vào tiền tạm ứng án phí đã n p là 5.000.000 đồng theo biên lại thu số AA/2019/0001968 ngày 06 tháng 11 năm 2019 của Chi Cục Thi hành án dân sự quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà ĐPHM được nhận lại số tiền 4.700.000 (Bốn triệu bảy trăm nghìn) đồng.
3.2. Án phí dân sự phúc thẩm:
Bà ĐPHM chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng. Được kh u trừ vào tiền tạm ứng án phí đã n p là 300.000 đồng theo biên lai thu số AA/2022/0011785 ngày 19 tháng 10 năm 2022 của Chi Cục Thi hành án dân sự quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà ĐPHM đã n p đủ án phí dân sự phúc thẩm.
Ông TAT được mi n n p án phí dân sự phúc thẩm.
Trư ng hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì ngư i được thi hành án dân sự, ngư i phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); th i hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TANDTC; - TAND C p cao tại TP.Hồ Chí Minh; - VKSND C p cao tại TP.Hồ Chí Minh; - VKSND TP.HCM; - TAND quận A (TP.HCM); - Cục THADS TP.HCM; - Chi cục THADS quận A (TP.HCM); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. (20) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lại Huỳnh Tú |