- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp tài sản - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn N phạm tội “Cướp tài sản” và tội “Làm nhục người khác”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 209/2021/HS-ST Ngày 10-12-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Hưởng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Lê Quang Xẹt;
2/ Ông Nguyễn Văn Thảo.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Nam - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trương Văn Thế - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 227/2021/TLST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 235/2021/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2021 đối với bị cáo:
Đỗ Văn N, sinh năm 1986 tại Cà Mau; nơi thường trú: Ấp Dân Quân, xã Việt Thắng, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau; nghề ngH: Lái xe cuốc; trình độ văn hoá: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn Đ và bà Trần Thị P; tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ ngày 23/3/2021, sau đó chuyển sang tạm giam cho đến nay; có mặt.
Bị hại: Bà Nguyễn Thị Ngọc B, sinh năm 1992; địa chỉ: Số 52/2 đường Lâm Thành Mậu, Khóm 1, Phường 4, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau; có đơn xin vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1978; địa chỉ: Ấp 20, xã Khánh Thuận, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau; có đơn xin vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đỗ Văn N và Nguyễn Thị Ngọc B có mối quan hệ tình cảm và sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 2019 tại phòng trọ số 9, khu nhà trọ Anh Minh thuộc khu phố 2, phường Hội Nghĩa, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Đến khoảng tháng 02 năm 2021 giữa N và B xảy ra mâu thuẫn nên B bỏ đi và đến tạm trú tại khu phố Chánh Long, phường Phú Chánh, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Khoảng 17 giờ ngày 20/3/2021, B đến phòng trọ số 9 của N để mượn N số tiền 3.000.000 đồng gửi về quê cho gia đình. Khi đến nơi, B thấy N đang uống bia cùng một số người bạn tại phòng trọ của N nên B vào ngồi uống bia chung. Đồng thời, B lấy điện thoại hiệu Samsung J5 Prime sạc pin trong phòng, N nhìn thấy và lấy điện thoại của B giấu vào cốp xe mô tô biển số 69K1-187.34 của N. Một lúc sau, B không thấy điện thoại nên B tìm kiếm và thấy điện thoại cất giấu trong cốp xe mô tô biển số 69K1-187.34 nên B lấy điện thoại của B đem cất giấu trong túi quần của N được treo trên vách tường. Đến khoảng 21 giờ 00 phút cùng ngày, N ngừng uống bia với bạn rồi đóng cửa đi ngủ cùng với B. Khi ngủ chung thì N và B có quan hệ tình dục với nhau. Trong lúc quan hệ tình dục N sử dụng điện thoại Samsung C9 Pro màu đen của N quay video ghi lại cảnh N và B quan hệ tình dục. Sau khi quan hệ tình dục xong, N mở đoạn video vừa quay được ra xem, B nhìn thấy và yêu cầu N xóa đoạn video đã quay giữa N và B thì N đồng ý xóa video rồi cả hai cùng đi ngủ.
Đến khoảng 05 giờ 00 phút ngày 21/3/2021, N và B tiếp tục quan hệ tình dục với nhau, N tiếp tục dùng điện thoại Samsung C9 Pro màu đen của N quay video ghi lại cảnh N quan hệ tình dục với B. Sau khi quan hệ tình dục xong cả hai mặc quần áo vào, B nói N chở B về khu vực phường Phú Chánh để đi làm, N không đồng ý rồi mở cốp xe mô tô biển số 69K1-187.34 tìm điện thoại đã lấy của B cất dấu trước đó nhưng không nhìn thấy, N hỏi B “điện thoại đi động của e đâu, đưa cho anh cất giữ”, B trả lời “Tao không có cất giữ” nên N lấy một con dao thái lan cán dao bằng gỗ màu xám, lưỡi dao bằng kim loại dài khoảng 20cm để trong giá đựng đũa được treo trên tường trong phòng trọ cầm trên tay đi lại chỗ B ngồi cách khoảng 40cm, chỉ con dao vào cổ B nói “Mày để điện thoại ở đâu, đưa cho tao không tao cắt cổ”, nhưng B không sợ và trả lời “Không đưa mày làm gì tao”. Nghe B nói vậy, N ném con dao xuống nền gạch trong phòng trọ, dùng hai tay đánh tới tấp vào vùng đầu, mặt của B nhiều cái và yêu cầu B đưa điện thoại của B cho N. Do bị đánh đau nên B lấy điện thoại Samsung J5 Prime của B được để trong túi quần của N treo trên vách tường đưa cho N thì N dừng không đánh nữa đồng thời N yêu cầu B ở lại, không cho B đi về. Sau đó, B yêu cầu N chở về khu vực phường Phú Chánh, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương để đi làm thì N đồng ý. Lúc này, N chở B đi ra chợ Quang Vinh 3 thuộc khu phố 1, phường Hội Nghĩa thì B kêu N mua nón bảo hiểm để đội, thì B bỏ đi bộ về phòng trọ của mình. N không thấy B đâu thì đi về phòng trọ của mình.
Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, N sử dụng mạng zalo chuyển video quan hệ tình dục giữa N và B cho ông Nguyễn Văn H là bạn của B có tên Zalo “Ca Mau We Toi” và chuyển video qua Messenger cho anh ruột của B có Facebook tên “Tri Phương” hiện đang cư trú ở nước ngoài xem đồng thời chuyển hình ảnh hạy cảm, video quan hệ tình dục này vào tin nhắn Mensenger trong điện thoại của B và sử dụng điện thoại của B đăng hình ảnh nhạy cảm của B trên trang cá nhân Facebook của B kèm theo nội dung “Anh nao co nhu cau hen em nha em puc vu tu a den z nha” và “Ky niem cua em nha moi nguoi giu lai dum e”. Khi nhận được đoạn video do N gửi, H thông báo cho B biết. Sau đó, B gọi điện thoại yêu cầu N tháo gỡ hình ảnh nhạy cảm của B ra khỏi trang cá nhân của B nhưng N không đồng ý và nói “Tao đăng cho mày nhục”. Nên ngày 23/3/2021, B đến Công an phường Hội Nghĩa trình báo sự việc và có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự. Sau khi tiếp nhận tin báo, Công an phường Hội Nghĩa tiến hành mời N về làm việc đồng thời tạm giữ:
- 01 con dao thái lan có cán bằng gỗ dài 11,5cm, lưỡi dao sắc mũi nhọn bằng kim loại dài 11,5cm, rộng 1,8cm;
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung J5 Prime màu vàng đồng số IMEI 1: 355079080562155 và IMEI 2: 355080080562153, có ốp lưng bằng nhựa dẻo có in hình người phụ nữ mặc váy màu xanh da trời và hoa văn xung quanh mặt sau ốp lưng;
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung C9 Pro màu đen;
- 01 xe mô tô biển số 69K1-187.34.
- 01 điện thoại di động màu đen nhãn hiệu Samsung Galaxy A5 (do ông
Nguyễn Văn H giao nộp).
Công an phường Hội Nghĩa lập hồ sơ ban đầu và chuyển giao hồ sơ cùng đồ vật, tài liệu cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên thụ lý theo quy định.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 43/KLHS-TTHS ngày 30/3/2021 của Hội đồng định giá tài sản thị xã Tân Uyên xác định điện thoại di động hiệu Samsung J5 Prime màu vàng đồng tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị 890.000 đồng.
Đối với điện thoại di động hiệu Samsung J5 Prime màu vàng đồng là tài sản của bị hại Nguyễn Thị Ngọc B và điện thoại di động màu đen nhãn hiệu Samsung Galaxy A5 là tài sản của ông Nguyễn Văn H. Ngày 14/7/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 71, 72 trả lại cho bà Nguyễn Thị Ngọc B và ông Nguyễn Văn H.
Xe mô tô biển số 69K1-187.34, nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đỏ đen, số khung MHJA3110EY243987, số máy: JA31E-0436952 do Đỗ Văn N đứng tên chủ sở hữu.
Về phần dân sự: Bà Nguyễn Thị Ngọc B yêu cầu Đỗ Văn N bồi thường số tiền 30.000.000 đồng tổn thất về tinh thần. Bà B có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Đỗ Văn N.
Cáo trạng số 237/CT-VKS.TU ngày 29/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên truy tố bị cáo Đỗ Văn N về tội “Cướp tài sản” và tội “Làm nhục người khác” theo khoản 1 Điều 168 và điểm e khoản 2 Điều 155 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đồng thời đề nghị:
- Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị mức hình phạt từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù về tội “Cướp tài sản” và từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội “Làm nhục người khác”.
- Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Xe mô tô biển số 69K1-187.34 không liên quan hành vi phạm tội, đề nghị trả lại cho bị cáo tiếp tục sử dụng; đối với con dao thái lan có giá trị không đáng kể, đề nghị tịch thu tiêu hủy; đối với điện thoại di động Samsung C9 Pro, bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội, đề nghị tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường tổn thất tinh thần cho bị hại số tiền 30.000.000 đồng, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
Xe mô tô biển số 69K1-187.34 không liên quan hành vi phạm tội, trả lại cho bị cáo tiếp tục sử dụng; đối với con dao thái lan có giá trị không đáng kể, cần tịch thu tiêu hủy; đối với điện thoại di động Samsung C9 Pro, bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội, cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố; lời nói sau cùng, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, tỏ thái độ ăn năn, hối hận và mong muốn được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố.
Về việc vắng mặt của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Quá trình điều tra đã lấy lời khai đầy đủ của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử vắng mặt người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
Về các yếu tố cấu thành tội phạm: Xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại đồng thời phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án. Do đó có đủ cơ sở xác định: Ngày 21/3/2021, Đỗ Văn N đã có hành vi dùng tay đánh bị hại Nguyễn Thị Ngọc B nhằm chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Samsung J5 Prime màu vàng đồng có giá trị 890.000 đồng; có hành vi sử dụng điện thoại đã chiếm đoạt của bị hại Nguyễn Thị Ngọc B để đăng 03 tấm hình (chụp nửa thân trên không mặc áo) của B trên trang cá nhân Facebook của B và sử dụng điện thoại di động hiệu Samsung C9 Pro của N gửi video nhạy cảm của B cho 01 người bạn của B qua Messenger và 01 người anh trai của B qua mạng xã hội Zalo nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm của B. Bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác, làm nhục người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ ghen tuông, cùng thái độ coi thường pháp luật mà cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu, danh dự, nhân phẩm của người khác được pháp luật bảo vệ. Trước khi sử dụng tay đánh bị hại, bị cáo có sử dụng con dao thái lan và lời nói đe dọa nhưng không làm bị hại lâm vào tình trạng không thể chống cự do bị hại còn có lời thách thức bị cáo, sau đó bị cáo đã ném bỏ con dao và dùng tay đánh bị hại. Xét thấy hành vi sử dụng tay đánh liên tiếp vào đầu, mặt của bị hại mới là hành vi làm cho bị hại lâm vào tình trạng không thể chống cự và buộc phải đưa tài sản cho bị cáo. Do đó, hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành các tội “Cướp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 168 của Bộ luật Hình sự và tội “Làm nhục người khác” quy định tại điểm e khoản 2 Điều 155 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố cũng như luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Về mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Xét thấy mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo trên cơ sở đã cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian nhất định nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung xã hội.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường về tổn thất tinh thần cho bị hại số tiền 30.000.000 đồng. Xét thấy đây là ý chí tự nguyện của bị cáo, phù hợp với quy định của pháp luật dân sự.
Về xử lý vật chứng: Xe mô tô biển số 69K1-187.34 không liên quan hành vi phạm tội; đối với con dao thái lan có giá trị không đáng kể; đối với điện thoại di động Samsung C9 Pro, bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội.
Về án phí sơ thẩm: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn N phạm tội “Cướp tài sản” và tội “Làm nhục người khác”.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ khoản 1 Điều 168; điểm e khoản 2 Điều 155; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 55 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Đỗ Văn N 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản” và 01 năm tù về tội “Làm nhục người khác”.
Tổng hợp hình phạt hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/3/2021.
2. Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ Điều 592 của Bộ luật dân sự:
Buộc bị cáo Đỗ Văn N phải bồi thường về tổn thất tinh thần cho bị hại Nguyễn Thị Ngọc B số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
3. Về xử lý vật chứng, áp dụng biện pháp tư pháp:
Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 dao thái lan;
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 Điện thoại di động hiệu Samsung C9 Pro;
- Trả lại cho bị cáo Đỗ Văn N xe mô tô biển số 69K1-187.34, nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đỏ đen, số khung MHJA3110EY243987, số máy: JA31E-0436952.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/11/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương)
4. Về án phí sơ thẩm:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - PV 06 Công an tỉnh Bình Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - VKSND thị xã Tân Uyên; - Công an thị xã Tân Uyên; - Chi cục THADS thị xã Tân Uyên; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Đình Hưởng |