vanban.org

Bản án 209/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Nam Định, tỉnh Nam Định Tuyên án 24/08/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 36 (ba sáu) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 05 tháng 4 năm 2021. Trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của anh Trần Văn S và bị cáo Nguyễn Văn Hùng. Bị cáo Nguyễn Văn H còn phải bồi thường thiệt hại cho anh Trần Văn S số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi tr… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ N
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 209/2021/HS-ST
Ngày: 24-8-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N - TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Nguyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Ngô Kim Thành.

Bà Vương Thị Minh Tân.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thu Thủy - Thư ký Toà án nhân dân thành phố N.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N tham gia phiên tòa: Ông Phạm Bá Hiệp - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2021; tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định. Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 180/2021/TLST-HS ngày 02-7-2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 180/2021/QĐXXST-HS ngày 10-8-2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn H- sinh năm 1965 tại tỉnh Hà Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Số 61/109 đường P, phường H, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức C và bà Bạch Thị N; có vợ Nguyễn Thị T (đã chết) và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 05 tháng 4 năm 2021, sau đó chuyển tạm giam từ ngày 14 tháng 4 năm 2021 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Trần Văn S, sinh năm 1969; nơi cư trú: Tổ 14 L, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bản thân Nguyễn Văn H là thợ xây, do cần người bốc vác nên khoảng 11 giờ ngày 05-4-2021, Hđiều khiển xe máy biển kiểm soát B1-87125 đến ngã tư đường T - P, thành phố N tìm người bốc vác. Tại đây, H gặp anh Trần Văn S và đặt vấn đề thuê vận chuyển vật liệu xây dựng. Do chỉ làm nghề xe ôm nên anh S chỉ sang gặp anh Đỗ Mạnh T, sinh năm 1975; nơi cư trú: Xã D, huyện V, tỉnh Thái Bình. Hđặt vấn đề cần chuyển 01 khối cát từ tầng 1 lên tầng 2 và hỏi giá bao nhiêu anh T trả lời 400.000 đồng. H nói “giá hơi cao đấy tính lại đi”, anh T không đồng ý nên Hhẹn anh T khi nào cần thuê sẽ quay lại và định ra về. Lúc này, anh S đứng gần đấy nói “Mày nói giá đấy thì đ. ai làm”. H nghe thấy anh S nói tục nên đã nói lại anh S dẫn tới hai bên mâu thuẫn, cãi nhau. Được anh T can ngăn nên H đã điều khiển xe máy bỏ đi. Do bực tức với thái độ của anh S, H điều khiển xe đi đến đoạn bãi tập kết rác trên vỉa hè đường P cạnh trường Cao đẳng Sư phạm N tìm nhặt được 01 đoạn gậy gỗ hình hộp chữ nhật màu nâu xám, kích thước (108 x 5 x 2,5) cm để giữa khung xe máy quay lại với ý định đánh anh S. Khoảng 11 giờ 20 phút cùng ngày, anh S điều khiển xe máy biển kiểm soát Z7-4570 về nhà theo hướng T - T thì H điều khiển xe máy vượt lên phía trước xe anh S rồi dừng xe ở sát bùng binh ngã ba T - H - T, phường T. Khi anh S điều khiển xe đi gần đến thì H xuống xe rồi dùng hai tay cầm gậy vung lên và vụt 01 phát từ phải qua trái, từ sau ra trước trúng mặt anh S làm người và xe máy ngã đổ ra đường. H tiếp tục vụt 01 (một) phát nữa trúng đùi trái anh S khiến đoạn gậy gỗ bị văng ra đường. Sau đó, Hđiều khiển xe theo đường T - P về nhà, còn anh S được người dân đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định với thương tích: Dập nát khuyết hỏng mũi, môi trên; mất nhóm răng cửa trên; chảy máu nhiều.

Sau khi xảy ra sự việc, anh Trần Văn P, sinh năm 1992, nơi cư trú: Tổ 14 Là, phường L, thành phố N là con trai anh Trần Văn S đã đến Công an phường T, thành phố N trình báo nội dung vụ việc. Công an phường T đã hoàn chỉnh hồ sơ, chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N để giải quyết theo thẩm quyền.

Nhận được tin báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã chủ trì cùng Viện kiểm sát nhân dân thành phố N và các Cơ quan chức năng khám nghiệm hiện trường, thu giữ đoạn gậy gỗ H đã vụt gây thương tích cho anh S và 03 (ba) mảnh răng vỡ đồng thời tiến hành các hoạt động điều tra thu thập chứng cứ làm rõ vụ việc.

Đến 17 giờ ngày 05-4-2021, Nguyễn Văn H đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi nêu trên.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 96/21/TgT ngày 09-4-2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Nam Định kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Trần Văn S do thương tích gây nên hiện tại là 15%, cơ chế hình thành vết thương do vật cứng có cạnh tác động.

Căn cứ tài liệu, chứng cứ thu thập được, ngày 14-4-2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự; Quyết định khởi tố bị can; tạm giam đối với Nguyễn Văn H để điều tra về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Ngày 20-5-2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trưng cầu giám định bổ sung tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Trần Văn S. Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 138/21/TgT ngày 28-5-2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Nam Định kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Trần Văn S do thương tích gây nên hiện tại là 29%. Cơ chế hình thành vết thương do vật cứng có cạnh tác động gây thương tích.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Trần Văn S yêu cầu Nguyễn Văn H phải bồi thường 200 triệu đồng. Quá trình điều tra, Nguyễn Văn H đã nhờ anh Nguyễn Quốc H, sinh năm 1968, nơi cư trú: Số 35/75 đường P, phường H, thành phố N (em trai của H) bồi thường trước cho anh S số tiền 50.000.000 đồng. Quan điểm của anh S yêu cầu H phải bồi thường thêm cho anh S số tiền 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng), cụ thể số tiền bồi thương tính như sau:

- Tiền viện phí nộp cho Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định, Bệnh viện Răng - Hàm - Mặt Hà Nội: 13.987.000 đồng.

- Tiền thuê xe cấp cứu vào Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định và chuyển đến Bệnh viện Răng - Hàm - Mặt Hà Nội: 5.000.000 đồng.

- Tiền ăn uống, bồi dưỡng sức khỏe của người bệnh trong 11 ngày tại Bệnh viện và trong 30 ngày sau khi xuất viện: 400.000 đồng x 41 ngày = 16.400.000 đồng.

- Tiền mua thuốc và các thiết bị y tế để điều trị cho người bệnh: 4.740.000 đồng.

- Tiền ăn uống, đi lại của người chăm sóc trong 11 ngày điều trị tại Bệnh viện: 250.000 đồng x 11 ngày = 2.750.000 đồng.

- Thu nhập bị mất của người bệnh trong thời gian điều trị từ ngày 05-4-2021 đến 05-8-2021: 300.000 đồng x 120 ngày = 36.000.000 đồng.

- Thu nhập bị mất của người chăm sóc do nghỉ việc để chăm sóc bị hại trong thời gian 30 ngày: 300.000 đồng x 30 ngày = 9.000.000 đồng.

- Đền bù tổn thất về tinh thần (20 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định năm 2021): 1.490.000 đồng x 20 = 29.800.000 đồng.

- Tiền dự định trồng 04 chiếc răng bị gãy của người bệnh: 40.000.000 đồng.

- Tiền phẫu thuật lại răng - hàm - mặt sau 06 tháng kể từ ngày xuất viện theo chỉ định của Bác sĩ: 42.323.000 đồng.

Bản Cáo trạng số 183/QĐ-VKS-TPNĐ ngày 30-6-2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự (với tình tiết định khung quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự).

Tại phiên toà, bị hại là anh Trần Văn S cũng thừa nhận nguyên nhân mâu thuẫn và thương tích của mình cũng một phần do lỗi của anh. Về vấn đề bồi thường, nay anh chỉ yêu cầu bị cáo bồi thường tổng số tiền là 100.000.000 đồng và mong muốn bị cáo sớm bồi thường nốt số tiền còn lại là 50.000.000 đồng để anh tiếp tục điều trị thương tích.

Bị cáo Nguyễn Văn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã truy tố, bị cáo xin lỗi bị hại, bị cáo đồng ý mức bồi thường mà anh S đưa ra và sẽ tác động gia đình thêm để sớm bồi thường số tiền còn lại cho anh S.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Nguyễn Văn H tại phiên tòa thể hiện hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã ra đầu thú; bị cáo đã tác động để gia đình bị cáo tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại; bản thân bị cáo đã có thời gian tham gia quân ngũ; bị hại cũng có lỗi. Do đó, Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Hphạm tội “Cố ý gây thương tích”;

- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Htừ 36 tháng đến 39 tháng tù.

- Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015 để ghi nhận sự thoả thuận giải quyết vấn đề bồi thường dân sự giữa anh S và bị cáo.

- Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Văn H nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn H có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có sự mâu thuẫn và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ như đơn trình báo của bị hại; biên bản khám nghiệm hiện trường; lời khai của người làm chứng; các bản kết luận giám định của Trung tâm pháp y tỉnh Nam Định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ nên đã có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 11 giờ 20 phút ngày 05-4-2021, Nguyễn Văn H đã có hành vi dùng gậy gỗ kích thước (108 x 5 x 2,5) cm vụt ngang mặt anh Trần Văn S khi anh S đang điều khiển xe máy tại khu vực ngã ba đường T-H, T, phường T, thành phố N làm tổn hại sức khỏe anh Trần Văn S với tỷ lệ thương tích là 29%. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền được pháp luật bảo vệ về sức khỏe của công dân, làm mất trật tự an ninh trên địa bàn thành phố. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, mặc dù biết hành vi cố ý gây thương tích là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì mâu thuẫn nhỏ giữa bị cáo và anh anh Trần Văn S mà bị cáo đã có hành vi côn đồ, coi thường pháp luật, sử dụng gậy gỗ là hung khí nguy hiểm để đánh gây thương tích cho anh Trần Văn S. Mức độ tổn hại sức khỏe của anh Trần Văn S do hành vi của bị cáo gây ra là 29% nên bị cáo đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ Luật Hình sự (với tình tiết định khung quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự).

Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã ra đầu thú; bị cáo đã tác động để gia đình bị cáo tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại; bản thân bị cáo có thời gian tham gia quân ngũ; bị hại cũng có một phần lỗi. Vì vậy, bị cáo Nguyễn Văn H được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về hình phạt: Xét bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội lần đầu, bị cáo được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử chỉ xử phạt bị cáo ở mức Viện kiểm sát đề xuất là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Trong giai đoạn điều tra, em trai của bị cáo Nguyễn Văn H đã tự nguyện bồi thường cho bị hại anh Trần Văn S số tiền 50.000.000 đồng. Nay tại phiên toà anh Trần Văn S chỉ yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn H phải bồi thường tổng số tiền là 100.000.000 đồng và bị cáo đồng ý với mức bồi thường thiệt hại như anh S yêu cầu. Hội đồng xét xử thấy rằng tại phiên toà anh S và bị cáo đã tự nguyện thống nhất được mức bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử sẽ ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận giữa anh S và bị cáo. Như vậy, số tiền bị cáo còn phải bồi thường cho anh S là 50.000.000 triệu đồng.

Về xử lý vật chứng: 03 (ba) mảnh răng vỡ thu giữ tại hiện trường anh Trần Văn S có quan điểm không nhận lại và 01 (một) đoạn gậy gỗ màu nâu xám, kích thước (108 x 05 x 2,5) cm là hung khí bị cáo Nguyễn Văn Hdùng để đánh gây thương tích cho anh S xét không còn giá trị sử dụng nên áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Án phí hình sự sơ thẩm: 200.000 đồng.

- Án phí đối với phần yêu cầu bồi thường của anh Trần Văn S: 50.000.000 đồng x 5% = 2.500.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 585, Điều 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 36 (ba sáu) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 05 tháng 4 năm 2021.

2. Trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của anh Trần Văn S và bị cáo Nguyễn Văn Hùng. Bị cáo Nguyễn Văn H còn phải bồi thường thiệt hại cho anh Trần Văn S số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng).

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật và anh Trần Văn S có đơn yêu cầu thi hành án, hàng tháng bị cáo Nguyễn Văn H còn phải nộp khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 03 (ba) mảnh răng vỡ đựng trọng bì thư niêm phong mã số NP01 và 01 (một) đoạn gậy gỗ màu nâu xám, kích thước (108 x 05 x 2,5) cm (vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01-7-2021).

4. Án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn Hvà bị hại là anh Trần Văn S được quyền làm đơn kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ