- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Ngọc P;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 209 /2021/HS- PT Ngày 15- 12- 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Sáu
Các thẩm phán:
1. Bà Lê Thị Dung
2. Bà Lê Thị Thủy
- Thư ký phiên toà: Bà Cao Thị Thu Trang– Thư ký Tòa án nhân dântỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Hà - Kiểm sát viên
Ngày 15 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 281/2021/HSPT ngày 26 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo Vũ Ngọc P do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 61/2021/HS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 388/2021/QĐXXPT-HS ngày 01 tháng 12 năm 2021 của TAND tỉnh Thanh Hóa;
Bị cáo kháng cáo:
Vũ Ngọc P; Sinh ngày 27 tháng 8 năm 1997 tại xã X, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn Q xã X, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ Văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Ngọc T và bà Trịnh Thị S; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ 2; Chưa có vợ; Tiền án; Tiền sự: Không. Bị tạm giam từ ngày 26/4/2021
Các bị cáo không kháng cáo, không bị kháng nghị: Đỗ Đình Q, Trịnh Văn Đ; Hà Đình Đ2; Lò Thị H; Lộc Thị M;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16h30 phút ngày 25/4/2021, Đỗ Đình Q và Vũ Ngọc P đến nhà Trịnh Văn Đ chơi. Q rủ P và Đ đến tối đi “bay” (tức sử dụng ma túy) P và Đ đồng ý. Bàn bạc xong Q lấy xe máy chở Đ đến xã X mua ma túy. Đến gần trường THPT Lê Hoàn thì Đ xuống xe chờ còn Q đi bộ đến sân bóng xã X, gặp một người đàn ông đeo khẩu trang, không rõ tên, tuổi, địa chỉ đi trên xe ô tô bốn chỗ màu đen, Q mua của người này 04 viên thuốc Lắc màu hồng và ½ chỉ Ketamine với giá 4.500.000đ. Mua được ma túy Q quay lại đón Đ cùng nhau về nhà Đ và đưa ma túy cho P giữ rồi Q đi về nhà.
Khoảng 19h cùng ngày Trịnh Văn Đ đến quán điện tử “Hội game quán” ở thôn 5 xã Xuân Lai chơi game thì gặp Hà Đình Đ2, thì Hà Đình Đ2 rủ Trịnh Văn Đ: “Tối nay làm tí không” (rủ nhau sử dụng ma túy) thì Trịnh Văn Đ đồng ý và nói: “ Oke anh”. Sau đó Trịnh Văn Đ về nhà còn Hà Đình Đ2 đến nhà người quen ở xã Bắc Lương uống rượu. Khoảng 22h Hà Đình Đ2 gọi điện qua ứng dụng messenger cho Trịnh Văn Đ bảo đến “Hội game quán” đón. Lúc này Q và P đang ở nhà Trịnh Văn Đ nên Đ nói có Hà Đình Đ2 muốn tham gia cùng thì Q và P đồng ý. Sau đó Trịnh Văn Đ, Q và P đi trên 02 xe máy đến gần cây xăng xã Xuân Lai thì Q và P dừng xe chờ còn Trịnh Văn Đ đến quán điện tử đón Hà Đình Đ2 quay lại. Tại đây cả bốn cùng bàn bạc và thống nhất sẽ đến quán karaoke T ở khu 5, thị trấn X hát và sử dụng ma túy, chi phí hết bao nhiêu sẽ cộng lại chia đều nhau. Q và P đi trước đến quán Karaoke T gặp chủ quán Lê Thanh T đặt phòng hát và nhờ Lê Thanh T điều cho 03 nhân viên nữ đến hát cùng. P lấy điện thoại gọi cho người quen là Lộc Thị M là nhân viên phòng hát khác đến hát cùng.
Một lúc sau Trịnh Văn Đ và Hà Đình Đ2 cùng đến quán hát, cả bốn người vào phòng hát Vip 5 tầng 2, P đưa túi nilon có chứa ma túy cho Trịnh Đình Đ2. Trịnh Đình Đ2 cầm túi và đổ ra 04 viên thuốc lắc lên bàn và nói: “Kẹo đó” rồi đưa túi chứa Katemine cho Q giữ. Trịnh Văn Đ và Hà Đình Đ2 mỗi người lấy 01 viên, P và Q mỗi người lấy nửa viên thuốc lắc sử dụng, 20 phút sau 04 nhân viên nữ gồm: Lộc Thị M, Lò Thị H, Trịnh Thị Ngọc và Lò Thị Thu Thoại cùng vào phòng hát. Trịnh Văn Đ đưa cho H ½ viên còn P đưa cho M 1/2 viên thuốc lắc để sử dụng. Sau khi sử dụng xong thuốc lắc, Q bảo H đi lấy dụng cụ để xào Ketamine, H đi xuống tầng 1 quán hát lấy 01 đĩa sứ, 01 thẻ nhựa, 01 bật lửa ga đem lên phòng hát. Trịnh Văn Đ dùng bật lửa đốt giấy ăn hơ nóng dưới đáy đĩa, Q cho Ketamine vào đĩa sứ, Trịnh Văn Đ dùng thẻ nhựa để xào Ketamine và chia thành các đường nhỏ trên đĩa. Q lấy điện thoại di động OPPO bật đèn flash đưa cho Thoại cầm rọi đèn cho Trịnh Văn Đ xào Ketamine. P lấy ra tờ tiền polime mệnh giá 50.000đ cuộn thành ống nhưng không được nên đưa cho M cuộn. M cùng P tách vỏ lụa đầu lọc của 03 điếu thuốc lá ra khỏi đầu lọc sau đó M cuộn tròn tờ tiền polime lại cho vào bên trong 03 vỏ đầu lọc thuốc lá gài lại thành ống hình trụ tròn để sử dụng ma túy và đặt trên đĩa sứ. Chuẩn bị xong Q bê đĩa sứ còn Thoại cầm điện thoại soi đèn cho mọi người trong phòng sử dụng ma túy.
Khoảng 01h 50 phút ngày 26/4/2021, Công an huyện Thọ Xuân phát hiện bắt quả tang tại phòng hát Vip 5 tầng 2 của quán Karaoke Tuấn T ở khu A, thị trấn X, huyện Thọ Xuân có 08 nam nữ thanh niên đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Tiến hành kiểm tra thu giữ gồm: 01 đĩa sứ trên bề mặt bám dính chất bột màu trắng, 01 ống trụ hình tròn được cuộn từ tờ tiền polime mệnh giá 50.000đ bám dính chất bột màu trắng, 01 thẻ nhựa dùng gắn sim Viettel (đã bóc sim) bề mặt thẻ bám dính chất bột màu trắng; 01 túi nilon bám dính chất bột màu hồng; 01 túi nilon bên trong có chứa chất bột màu trắng. Khám xét khẩn cấp quán karaoke T nhưng không thu giữ được gì thêm. Toàn bộ tang vật chứng thu được đựng trong thùng các tông bằng giấy nhãn hiệu mì tôm Hảo Hảo có kí hiệu M.
Kết quả xét nghiệm xác định: Đỗ Đình Q, Vũ Ngọc P, Trịnh Văn Đ, Hà Đình Đ2, Lò Thị H, Trịnh Thị Ngọc đều dương tính với Methamphetamine (Ma túy đá), Ketamine và thuốc lắc ký hiệu MDMA; Lộc Thị M dương tính với Methamphetamine (Ma túy đá) và thuốc lắc, ký hiệu MDMA; Lò Thị Thu T dương tính với Ketamine.
Tại bản kết luận giám định số 1530/PC 09 ngày 03/5/2021 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa đã kết luận tang vật chứng thu được đựng trong thùng các tông bằng giấy nhãn hiệu mì tôm Hảo Hảo có kí hiệu M:
“Chất bột màu trắng bám dính trên bề mặt 01 đĩa màu trắng, hình tròn có đường kính khoảng 30cm của thùng giấy cattong kí hiệu M gửi giám định là chất ma túy, loại Ketamine, không xác định được trọng lượng (khối lượng) ”.
“Chất bột màu trắng bám dính trên 01 ống được cuộn bằng tờ tiền polime mệnh giá 50.000đ bên ngoài được gài lại bằng 03 ống giấy đầu tẩu thuốc lá của thùng giấy cattong kí hiệu M gửi giám định là chất ma túy, loại Ketamine, không xác định được trọng lượng (khối lượng) ”.
“Chất bột màu trắng bám dính trên 01 thẻ nhựa dạng thẻ chứa sim điện thoại mạng Viettel của thùng giấy cattong kí hiệu M gửi giám định là chất ma túy, loại Ketamine, không xác định được trọng lượng (khối lượng) ”.
“Chất bột màu hồng bám dính trong 01 túi nilon màu trắng của thùng giấy cattong kí hiệu M gửi giám định là chất ma túy, loại MDMA, không xác định được khối lượng.
“Chất bột màu trắng bám dính trong 01 túi nilon màu trắng của thùng giấy cattong kí hiệu M gửi giám định là chất ma túy, loại Ketamine,có trọng lượng (khối lượng) là 0,112g ”.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ một số tài sản gồm: 01 xe máy Suzuki nhãn hiệu SATRIA màu đen biển kiểm soát 36D1-549-77 của Trịnh Văn Đ mượn của Trần Văn T; 01 xe máy YAMAHA nhãn hiệu EXCITER biển kiểm soát 36B8- 003.07 của Đỗ Đình Q mượn của chị Hà Vân A; 01 điện thoại di động Iphone 5 SE màu đen đã qua sử dụng của Vũ Ngọc P; 01 loa SUB nhãn hiệu JBL SRX700 màu đen đã qua sử dụng và 01 ti vi Sony Led HDTV 55 inch, màu đen đã qua sử dụng thu tại phòng hát vip5 của quán Karaoke T. Số tài sản trên không liên quan đến vụ án, đã trả lại cho chủ sở hữu.
Vật chứng của vụ án gồm: 01 thùng giấy cattong bên ngoài có dòng chữ “Mì tôm Hảo Hảo” có kí hiệu M đã được bàn giao và đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
Tại bản án số 61/2021/HS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân đã quyết định:
Căn cứ vào : Điểm b , c khoản 2 điều 255 Bộ luật hình sự ;
Tuyên bố : Các bị cáo Đỗ Đình Q , Trịnh Văn Đ, Vũ Ngọc P, Hà Đình Đ2, Lò Thị H và Lộc Thị M (Lộc Thị Mỹ A) phạm tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy ”.
- Áp dụng : Điểm b , c khoản 2 điều 255 ; Điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 ; Điều 17 ; Điều 58.
- Xử phạt: Bị cáo Vũ Ngọc P 07 ( bảy ) năm tù.
Các bị cáo Trịnh Văn Đ 07 ( bảy ) năm 06 ( sáu ) tháng tù; Hà Đình Đ2 07 ( bảy ) năm tù; Lộc Thị M ( Lộc Thị Mỹ Anh ) 07 ( bảy ) năm tù; Đỗ Đình Q 06 ( sáu ) năm 02 ( hai ) tháng tù; Lò Thị H 05 ( Năm ) năm 03 ( ba ) tháng tù
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 30 tháng 9 năm 2021 bị cáo Vũ Ngọc P có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo P giữ nguyên nội dung kháng cáo;
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa: đề nhị HĐXX căn cứ vào điểm b khoản 1 điều 355; điểm c điều 357 BLTTHS chấp nhận kháng cáo của bị cáo: giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo P từ 13 tháng đến 15 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận:
. Xét về hành vi phạm tội: Khoảng 16h30’ ngày 25/4/2021 Đỗ Đình Q rủ Vũ Ngọc P, Hà Đình Đ2 và Trịnh Văn Đ đi “bay” có nghĩa là đi sử dụng ma túy, sau khi đồng ý Q đi mua ma túy, sau đó cùng bàn bạc và thống nhất đến quán karaoke T ở khu 5, thị trấn X hát Karaoke và sử dụng ma túy, chi phí hết bao nhiêu sẽ cộng lại chia đều nhau. Tại quán Karaoke T có 4 nhân viên nữ Lộc Thị M, Lò Thị H, Trịnh Thị Ngọc và Lò Thị Thu Thoại cùng tham gia sử dụng ma túy. Đến khoản 01h 50 phút ngày 26/4/2021 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thọ Xuân kiểm tra, bắt quả tang. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội, làm phát sinh các tệ nạn xã hội khác, có thể lây lan đến nhiều dịch bệnh nguy hiểm trong cộng đồng xã hội. Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân xét xử các bị cáo về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là hoàn toàn đúng người đúng tội, đúng pháp luật. Theo đó, cần áp dụng hình phạt tù phù hợp, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo đủ S răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Vũ Ngọc P:
Bị cáo P là người tham gia với vai trò bị rủ rê, lôi kéo khi thực hiện hành vi tiếp S cho đối tượng khác phạm tội, đưa ½ viên thuốc lắc cho bị cáo M sử dụng và cùng M lấy tờ tiền polime mệnh giá 50.000đ để cuộn ống hút, án sơ thẩm đánh giá bị cáo tham gia với vai trò sau trong vụ án là phù hợp. Bị cáo có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai báo. Ngoài ra bị cáo được Hiệu trưởng trường THPT Lê Hoàn, Thọ Xuân tặng Giấy khen đạt giải khuyến khích các môn thể dục thể thao; Giám đốc sở Giáo dục và đào tạo tỉnh Thanh Hóa chứng nhận đạt giải Khuyến khích môn Kéo co và Vovinam; UBND huyện thọ Xuân Chứng nhận đạt giải ba môn điền kinh, giả Ba môn Kéo co và giải khuyến khích môn Đẩy gậy, chứng tỏ bị cáo đã đạt được nhiều thành tích xuất sắc trong học tập, lao động nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm v khoản 1 điều 51 BLHS, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm lại xác định là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 điều 51 BLHS là không chính xác. thiệt thòi cho bị cáo khi lượng hình.
Mặt khác, tại giai đoạn xét xử phúc thẩm bị cáo xuất trình thêm “Giấy khen có thành tích xuất sắc trong công tác Đoàn”, “Giấy chứng nhận đạt giải Huy chương Đồng môn bắn súng Q dụng, võ thuật”. Bị cáo có công cứu giúp người gặp tai nạn giao thông, có ông nội được tặng huy hiệu 50 năm tuổi đảng, được nhà nước tặng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Ba, có bà nội được nhà nước tăng Huy chương kháng chiến chống Pháp hạng Hai. Bản thân bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ Công an đã hoàn thành nghĩa. Như vậy, tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm v khoản 1 và thêm tình tiết khoản 2 Điều 51 BLHS.
Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và khoản 2 điều 51 BLHS nên áp dụng điều 54 xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định. Do đó, đơn kháng cáo của bị cáo được chấp nhận và giảm cho bị cáo phần hình phạt để bị cáo yên tâm cải tạo tốt sớm trở về với gia đình, với cộng đồng xã hội để làm ăn lương thiện, như đề nghị của đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa tại phiên tòa là phù hợp.
. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.
.Về án phí: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí HSPT;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b, khoản 1 điều 355; điểm c khoản 1 điều 357
1.Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Ngọc P;
Sửa bản án sơ thẩm số 61/2021/HSST ngày 22/9/2021 của TAND huyện Thọ Xuân về hình phạt đối với bị cáo Vũ Ngọc P;
2. Căn cứ: Điểm b, c khoản 2 điều 255; Điểm s, v khoản 1, 2 điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 54 Bộ luật hình sự.
Xử phạt : Bị cáo Vũ Ngọc P 5 (năm) năm 9 (chín) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/4/2021.
3. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luât kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Về án phí phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu án phí HSPT.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: TAND, VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - Công an Huyện Thọ Xuân - VKSND Huyện Thọ Xuân - TAND huyện Thọ Xuân - Các Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu Tòa HS HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM CÁC THẨM PHÁN Lê Thị Thủy Lê Thị Dung | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Sáu THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Sáu |