- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Thị Ngọc Đ - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (điều 341 Lu…"
- Tòa quyết gì? 1/ Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Võ Thị Ngọc Đ phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
- Căn cứ chính? Điều 341 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 209/2020/HS - ST Ngày: 31-8-2020. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Đạo.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Trƣơng Ngọc Điệp.
2/ Ông Phạm Văn Lâm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hiếu – Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Điền - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 208/2020/TLST-HS ngày 31/7/2020, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 244/2020/QĐXXST – HS ngày 17/8/2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Võ Thị Ngọc Đ, sinh ngày 17/4/1978, tại Quảng Nam. Nơi ĐKHKTT: Đƣờng NH, phƣờng a, thành phố V, tỉnh V1. Tạm trú: khu phố x, phƣờng P, thành phố M, tỉnh Bình Dƣơng. Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Không. Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không. Con ông Võ N (chết) và bà Nguyễn Thị C; Chồng: Trần Văn C1, có 03 con (lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2009). Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại; Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1993. Địa chỉ: phƣờng H, thành phố M, tỉnh Bình Dƣơng; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Võ Thị Ngọc Đ và chị Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1993, cƣ trú tại phƣờng H, thành phố M, tỉnh Bình Dƣơng là bạn quen biết nhau. Trong quá trình quen biết, Đ hỏi mƣợn chị T số tiền 200.000.000 (hai trăm triệu đồng) đồng thì chị T ra điều kiện Đ phải đƣa cho chị T giữ bản phô tô sao y chứng thực của cơ quan nhà nƣớc giấy chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Đ. Ngày 19/8/2019, chị T đƣa cho Đ mƣợn số tiền 60.000.000 (sáu mƣơi triệu) đồng trƣớc và Đ đƣa cho chị T 01 (một) Giấy chứng minh nhân dân tên Võ Thị Ngọc Đ, 01 (một) Sổ hộ khẩu số 080324xxx có tên chủ hộ là Võ Thị Ngọc Đ và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN 143xxx ngày 01/11/2018 của Sở Tài nguyên và Môi trƣờng tỉnh Bình Dƣơng cấp cho chủ hộ là Võ Thị Ngọc Đ để nhờ chị T đem đến Ủy ban nhân dân phƣờng sao y chứng thực để khi chị T chứng thực xong thì trả lại các giấy tờ trên cho Đ và đƣa cho Đ mƣợn tiếp số tiền 140.000.000 (một trăm bốn mƣơi triệu) đồng còn lại. Ngày 20/8/2019, chị T đem 01 (một) Giấy chứng minh nhân dân tên Võ Thị Ngọc Đ, 01 (một) Sổ hộ khẩu số 080324xxx có tên chủ hộ là Võ Thị Ngọc Đ, 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN 143xxx tên Võ Thị Ngọc Đ đến Ủy ban nhân dân phƣờng P, thành phố M để chứng thực bản sao từ bản chính thì anh Trần Văn L, sinh năm 1983 là cán bộ phòng tiếp dân phát hiện các giấy tờ trên có dấu hiệu làm giả nên anh L báo Công an phƣờng P đến để xử lý. Sau đó, Công an phƣờng P mời chị T đem theo các giấy tờ trên về trụ sở Công an phƣờng Phú Cƣờng làm việc thì chị T khai nhận các giấy tờ trên chị T đem đi sao y chứng thực giùm cho Võ Thị Ngọc Đ nên Công an phƣờng P lập biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu gồm: 01 (một) Giấy chứng minh nhân dân tên Võ Thị Ngọc Đ, 01 (một) Sổ hộ khẩu số 080324xxx có tên chủ hộ là Võ Thị Ngọc Đ, 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN 143xxx tên Võ Thị Ngọc Đ và chuyển hồ sơ vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Thủ Dầu Một để xử lý theo thẩm quyền.
Quá trình xác minh, điều tra, Võ Thị Ngọc Đ khai nhận: Khoảng năm 2018, Đ có mua một căn nhà địa chỉ tại phƣờng P, thành phố M, tỉnh Bình Dƣơng để sinh sống cùng với các con của Đ nên đƣợc Sở Tài nguyên và Môi trƣờng tỉnh Bình Dƣơng cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN 143xxx mang tên Võ Thị Ngọc Đ. Đầu năm 2019, trên đƣờng đi đến thành phố Hồ Chí Minh, Đ làm rơi mất túi xách trong đó có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sổ hộ khẩu. Sau đó, Đ lên mạng xã hội tìm dịch vụ làm lại giấy tờ đã mất thì gặp ngƣời nam tên V (không xác định rõ nhân thân, lai lịch) thỏa thuận làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với số tiền 13.000.000 (mƣời ba triệu) đồng và sổ hộ khẩu với số tiền 2.000.000 (hai triệu) đồng thì Đ đồng ý. Sau khi làm xong hai giấy tờ gồm 01 (một) Sổ hộ khẩu số 080324xxx có tên chủ hộ là Võ Thị Ngọc Đ và 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN 143xxx tên Võ Thị Ngọc Đ thì ngƣời nam tên V đƣa các giấy tờ trên cho Đ và Đ trả số tiền 15.000.000 (mƣời lăm triệu) đồng cho V. Ngày 20/8/2019, Đ nhờ chị T đem các giấy tờ trên đến Ủy ban nhân dân phƣờng P, thành phố M để sao y chứng thực thì bị phát hiện nhƣ trên.
Ngày 24/9/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Thủ Dầu Một ra Quyết định trƣng cầu giám định số 582/QĐGĐ-CQĐT-KT gửi Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng giám định 01 (một) Sổ hộ khẩu số 080324xxx có tên chủ hộ là Võ Thị Ngọc Đ, 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN 143xxx tên Võ Thị Ngọc Đ.
Ngày 11/10/2019, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng có Bản kết luận giám định số 387/GĐ-PC09 kết luận:
1. Phôi “sổ hộ khẩu” số 080324xxx, họ và tên chủ hộ Võ Thị Ngọc Đ, nơi thƣờng trú phƣờng MP, thị xã B, tỉnh Bình Dƣơng, đề ngày 28 tháng 5 năm 2018 (ký hiệu A1) là giả bằng phƣơng pháp in phun màu điện tử.
2. Phôi và hình dấu tròn có nội dung “*CỘNG HÒA X.H.C.N VIỆT NAM* TỈNH BÌNH DƢƠNG – SỞ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƢỜNG” trên “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” số CN 143xxx mang tên Võ Thị Ngọc Đ, sinh năm 1978, địa chỉ thƣờng trú thành phố V, tỉnh V1, đề ngày 01 tháng 11 năm 2018 (ký hiệu A2) là giả bằng phƣơng pháp in phun màu điện tử.
Đối với 01 (một) Sổ hộ khẩu số 080324xxx có tên chủ hộ là Võ Thị Ngọc Đ, 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN 143xxx tên Võ Thị Ngọc Đ, quá trình điều tra xác định: Các giấy tờ trên là vật chứng của vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Thủ Dầu Một đóng dấu bút lục và lƣu trong hồ sơ vụ án.
Đối với 01 (một) Giấy chứng minh nhân dân tên Võ Thị Ngọc Đ, quá trình điều tra xác định: Giấy chứng minh nhân dân trên là giấy tờ tùy thân của Đ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Thủ Dầu Một đã lập biên bản trả lại cho Võ Thị Ngọc Đ.
Đối với chị Nguyễn Thị Thanh T, quá trình xác minh, điều tra chị T khai nhận không biết 01 (một) Sổ hộ khẩu số 080324xxx có tên chủ hộ là Võ Thị Ngọc Đ, 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN 143xxx tên Võ Thị Ngọc Đ mà Đ nhờ chị T sao y công chứng là giả nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Thủ Dầu Một không đề cập xử lý. Đối với số tiền 60.000.000 (sáu mƣơi triệu) đồng chị T cho Đ mƣợn thì Đ đã trả lại cho T và chị T không có yêu cầu gì với Đ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Thủ Dầu Một không đề cập xử lý hành vi chiếm đoạt tiền của Đ.
Đới với ngƣời nam tên V là ngƣời làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sổ hộ khẩu giả cho Đ do quá trình xác minh, điều tra không xác định rõ họ tên và địa chỉ cƣ trú cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Thủ Dầu Một không có căn cứ để xác minh, điều tra xử lý.
Cáo trạng số 221/CT-VKS-HS ngày 30/7/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo Võ Thị Ngọc Đ về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một trong phần tranh luận, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Võ Thị Ngọc Đ mức hình phạt từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù, cho hƣởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng.
Biện pháp tƣ pháp: Không đề nghị giải quyết.
Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện là phù hợp với quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can cùng những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Ngày 20/8/2019, Võ Thị Ngọc Đ có hành vi giao 01 (một) sổ hộ khẩu, 01 (một) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (đều là giấy tờ giả) mang tên Võ Thị Ngọc Đ cho Nguyễn Thị Thanh T để mang đi chứng thực nhằm sử dụng vào mục đích cá nhân. Do vậy, hành vi mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản nhƣ trên là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của Nhà nƣớc, ảnh hƣởng đến hoạt động của các Cơ quan nhà nƣớc trong việc cấp hộ khẩu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho công dân. Về nhận thức, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhƣng vì động cơ cá nhân mà bị cáo đã bất chấp sự trừng phạt của pháp luật, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, để có tác dụng giáo dục bị cáo đồng thời nhằm đấu tranh phòng chống tội phạm chung, cần có mức hình phạt tƣơng xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng nhƣ tại phiên toà, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xét bị cáo có nơi cƣ trú rõ ràng, nhân thân tốt, chƣa có tiền án, tiền sự . Bản thân bị cáo không có khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nếu cho bị cáo đƣợc miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện. Do vậy, nhằm tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội cải tạo thành công dân tốt, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 nhƣ đề nghị của Viện kiểm sát khi quyết định hình phạt. Ngoài ra, xét thấy cần có biện pháp răn đe chung trong xã hội về hành vi sử dụng tài liệu giả, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng khoản 4 Điều 341 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.
Về biện pháp tƣ pháp: Không có.
Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 136, 260, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hƣớng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1/ Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Võ Thị Ngọc Đ phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
2/ Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Võ Thị Ngọc Đ 06 (sáu) tháng tù, cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án (31/8/2020).
Giao bị cáo về Ủy ban nhân dân phƣờng P, thành phố M, tỉnh Bình Dƣơng giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trƣờng hợp ngƣời đƣợc hƣởng án treo thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc ngƣời đƣợc hƣởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hƣởng án treo.
Áp dụng khoản 4 Điều 341 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, phạt bổ sung bị cáo số tiền 20.000.000đ (hai mƣơi triệu đồng).
3/ Về biện pháp tƣ pháp: Không có.
5/ Về án phí: Buộc bị cáo nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc ngày bản án đƣợc niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND tỉnh Bình Dƣơng; - Công an tỉnh Bình Dƣơng (PV06); - Sở tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thành phố Thủ Dầu Một; - Công an thành phố Thủ Dầu Một; - Chi cục THADS thành phố Thủ Dầu Một; - Ngƣời tham gia tố tụng; - Lƣu: HS, Tòa. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Minh Đạo |