vanban.org

Bản án 209/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hoàng Mai, TP. Hà Nội Tuyên án 24/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Thị Thu HIền - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN H
THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 209/2020/HS-ST
Ngày: 24/7/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN H, THÀNH PHỐ H

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình T

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị L

Bà Hoàng Thị C

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Hồng H - Thư ký Tòa án,Tòa án nhân dân quận H, thành phố H.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận H, thành phố H tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Ng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận H, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 233/2020/TLST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 226/2020/QĐXXST- HS ngày 08 tháng 06 năm 2020 đối với bị cáo:

HOÀNG THỊ THU HIỀN( tên gọi khác: Hoàng Thị H, Hoàng Thu H), sinh năm: 1984, tại: Lạng Sơn; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Khuổi Xó, xã Kim Đ, huyện T, tỉnh L; Trú tại: Tổ 14, phường H, quận H, H; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hoàng Văn T ( đã chết); Con bà: Trần Ngọc B; có 01 con sinh năm 2018; Nhân thân: Tiền án 01, tiền sự:01. Bản án số:101 ngày 21/9/2015 Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, Hà Nội xử phạt 28 tháng tù tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; Năm 2010 công an xã Kim Đồng, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn xử lý hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Danh chỉ bản số: 179 do Công an quận H lập ngày 16/01/2020;

Bắt quả tang ngày 20/12/2019, Bị cáo hiện đang bị áp dụng lệnh cấm đi khởi nơi cư trú; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Anh Trịnh Xuân B, sinh năm: 1960

Trú tại: Xóm 16, xã G, huyện G, tỉnh N.

( Vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 15 phút ngày 20/12/2019, Trịnh Xuân B sử dụng số điện thoại 0359636374 gọi đến số điện thoại 0344566897 của Hoàng Thị Thu H hỏi mua 01 gói ma túy với giá 100.000 đồng, H đồng ý. Sau đó Hiền đi bộ ra đầu ngõ 1333 Giải Phóng nhờ 01 người xe ôm đi mua hộ 01 gói ma túy và đưa cho người xe ôm 80.000 đồng. Khoảng 05 phút sau, người xe ôm quay lại và đưa cho H 01 gói ma túy loại Heroine bên ngoài bọc nilon màu đen. H cầm và cất gói ma túy vào túi áo bên trái đang mặc rồi đi đến trước số nhà 95 Thịnh Liệt để giao túi ma túy cho B. Tại đây, B đưa H 200.000 đồng, H đưa túi ma túy trên cho B. Khi B cầm gói ma túy trên tay phải thì bị tổ công tác Công an phường Thịnh Liệt trong khi làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang. Khi bị bắt quả tang, B thả túi gói ma túy từ tay phải xuống đất cách chân B khoảng 20 cm. H chưa kịp trả lại B 100.000 đồng. Tại chỗ tổ công tác đã tiến hành lập biên bản thu giữ của B 01 gói nhỏ bên ngoài cọc nilon màu đen kích thước 1x2 cm bên trong có chứa chất bột màu trắng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xphone không có số Imei, đã qua sử dụng. Thu giữ của H số tiền 1.350.000 đồng và 01 điện thoại di động Nokia 1280 số Imei: 352834059846176 đã qua sử dụng. sau đó tổ công tác đã đưa Hoàng Thị Thu Hiền và Trịnh Xuân B về trụ sở để điều tra làm rõ.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận H đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hoàng Thị Thu H tại Tổ 14, phường Hoàng Liệt, H, H và chỗ ở của Trịnh Xuân B tại tổ 10, phường Thịnh Liệt, H, H nhưng không phát hiện, thu giữ gì liên quan đến vụ án.

Tại cơ quan điều tra, Trịnh Xuân B khai nhận: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 20/12/2019, B đang ở nhà thì T là bạn nghiện ngoài xã hội ( không biết họ tên, địa chỉ ) đến rủ B đi mua Heroin về cùng nhau sử dụng, B đồng ý. Sau đó Trung chở B đi đến khu vực chợ Giáp Nhị, phường T, H, H, tại đây Trung đưa cho B 200.000đồng để mua 01 gói Heroine với giá 100.000đồng về cùng nhau sử dụng còn T ngồi chờ B. B cầm tiền sau đó gọi điện thoại cho H để mua ma túy, H hẹn B ra trước số nhà 95 Thịnh Liệt để lấy ma túy. B đến điểm hẹn thì H đưa cho B 01 gói ma túy Heroine và B đưa cho H số tiền 200.000đồng (chưa kịp lấy lại 100.000đ) thì bị cơ quan Công an phát hiện, B đã thả gói ma túy từ tay phải xuống đất cách chân B khoảng 20cm sau đó bị bắt giữ.

Theo Kết luận giám định số 8448/PC54 ngày 30/12/2019 của phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố H kết luận: Bột màu trắng bên trong 01 gói nilong màu đen là ma túy loại Heroine, khối lượng: 0,047 gam.

Đối với số tiền 1.350.000đồng thu giữ của H, H khai trong đó có 200.000đồng là tiền B đưa mua ma túy (H chưa kịp trả lại 100.000đồng), số tiền còn lại 1.150.000đồng là tiền H lao động tiết kiệm mà có.

Đối với chiếc điện thoại di động Nokia 1280 số Imei: 352834059846176 thu giữ của H, H khai dùng liên lạc cá nhân và liên lạc bán ma túy với Báo.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xphone không có số Imei thu giữ của B, B khai dùng liên lạc cá nhân và sử dụng liên lạc mua ma túy với H.

Cơ quan công an đã dẫn giải H đi xác định người đàn ông xe ôm H nhờ mua ma túy, nhưng không xác định được nên cơ quan Công an không có căn cứ xử lý.

Tiến hành dẫn giải Trịnh Xuân B xác định được vị trí T đưa B đến và chờ B đi mua ma túy nhưng không xác định được đối tượng T nên cơ quan Công an không có căn cứ xử lý.

Đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Trịnh Xuân B chưa cấu thành tội Tàng trữ, CQĐT Công an Quận H đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Trịnh Xuân B về hành vi Tàng trữ trái phép 0,047 gam Heroine mức phạt 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng).

*Tại bản cáo trạng số 226/CT-VKSHM ngày 22/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận H đã truy tố Hoàng Thị Thu H tội Mua bán trái phép chất ma túy theo Khoản 1, Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.

* Tại phiên tòa:

Bị cáo Hoàng Thị Thu H khai nhận: Khoảng 20 giờ ngày 20/12/2019, tại trước số nhà 95 phố Thịnh Liệt, phường Thịnh Liệt, H, H. Trong khi H đang bán trái phép chất ma túy cho Trịnh Xuân B 01 gói ma túy loại Heroine có khối lượng 0,047 gam với số tiền 100.000 đồng thì bị phát hiện bắt quả tang.Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận H giữ quyền công tố luận tội và tranh luận tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng đã nêu và đề nghị áp dụng: Khoản 1, Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015,xử phạt:

- Hoàng Thị Thu H từ 28 tháng tù đến 32 tháng tù.

- Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền.

- Tịch thu tiêu hủy 0,047 gam Heroine;

- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Nokia 1280, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xphone và số tiền 200.000 đồng.

- Trả lại cho bị cáo số tiền 1.150.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

* Phần tranh luận tại phiên tòa: Bị cáo Hoàng Thị Thu H thừa nhận Kiểm sát viên luận tội đối với hành vi phạm tội của bị cáo là đúng, không oan, sai nên không có tranh luận gì.

* Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo hối hận về hành vi phạm tội của mình. Hiện bị cáo đang nuôi con nhỏ sinh năm 2018 xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận H, điều tra viên, Viện kiếm sát nhân dân quận H, kiểm sát viên trong quá tình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trịnh Xuân báo có đơn đề nghị xét xử vắng mặt tại phiên tòa nên HĐXX căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[3]. Xét hành phạm tội của bị cáo: Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa thể hiện: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phủ hợp với vật chứng thu được trong vụ án và kết luận giám định. Đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ ngày 20/12/2019, tại trước số nhà 95 phố Thịnh Liệt, phường T, H, H bị cáo Hoàng Thị Thu H đang có hành vi bán trái phép chất 0,047 gam Heroine cho Trịnh Xuân B thì bị công an phường T phát hiện bắt quả tang.

Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi bán trái phép 0,047 gam ma túy loại Heroine cho Trịnh Xuân Báo của bị cáo Hoàng Thị Thu Hiền đã đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1, Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015. Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân quận H truy tố theo tội danh và điều luật trên là hoàn toàn đúng pháp luật.

[4]. Tính chất vụ án là nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm cho xã hội, tiếp tay cho các tệ nạn buôn bán ma túy ngày càng phát triển. Bị cáo biết được tác hại của ma túy nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội nhằm mục đích hưởng lợi.

Xét nhân thân bị cáo xấu: Năm 2015 bị cáo bị Tòa án Thanh Trì, H xử phạt 28 tháng tù tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; Năm 2010 công an xã Kim Đồng, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn xử lý hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Các tiền án, tiền sự này đã được xóa, điều đó thể hiện bị cáo đã được giáo dục, cải tạo nhưng không chịu sửa đổi mà tiếp tục phạm tội, thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo mới có tác dụng đảm bảo công tác đấu tranh và phòng chống tội phạm.

[5]. Khi lượng hình Hội đồng xét xử xem xét bị cáo khai B thành khẩn hành vi phạm tội nên áp dụng điểm s khoản 1 điều 51 BLHS năm 2015 để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

[6]. Hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có thu nhập ổn định.Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

[7]. Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

-Đối với 0,047 gam Heroine cần tịch thu tiêu hủy.

-Đối với 01 điện thoại di động Nokia 1280 thu giữa của bị cáo H và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xphone thu giữ của Trịnh Xuân B, bị cáo H và anh B đã sử dụng để liên lạc mua bán trái phép chất ma túy với nhau nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

-Đối với số tiền 1.350.000 đồng thu giữ của bị cáo, trong đó có 200.000 đồng là tiền của anh Trịnh Xuân B đưa cho bị cáo H để mua ma túy nên tịch thu sung ngân sách nhà nước; số tiền còn lại là 1.150.000 đồng là tiền riêng của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo H nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[8].Về các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông xe ôm H nhờ mua ma túy và đối tượng tên là Trung đưa tiền cho B đi mua ma túy, đều không xác được lai lịch, địa chỉ nên cơ quan Công an không có căn cứ xử lý.

Đối với hành vi tàng trữ trái phép 0,047 gam Heroine của Trịnh Xuân B chưa cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy nên cơ quan cảnh sát điều tra công an Quận H đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với hình thức phạt tiền là có căn cứ pháp luật.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát truy tố bị cáo Hoàng Thị Thu H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 252 của Bộ luật hình sự năm 2015 và các điều luật quy định tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, đề xuất mức án đối với bị cáo và biện pháp tư pháp là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

[9]. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; Khoản 1 Mục 1 Danh mục án phí lệ phí Tòa án.

[10]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Khoản 1, Điều 251; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về về mức thu, miễn giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[1]. Xử phạt: Hoàng Thị Thu H( tên gọi khác: Hoàng Thị H, Hoàng Thu H) 28 ( Hai tám ) tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính tù ngày bắt thi hành án.

[2]. Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.

[3]. Về Biện pháp tư pháp :

- Tịch thu tiêu hủy 0,047 gam Heroine.

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động Nokia 1280 số Imei: 352834059846176 đã qua sử dụng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xphone, không có số Imei, đã qua sử dụng

(Theo biên bản bàn giao vật chứng số NK2020-00261 ngày 24/06/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận H, H).

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng

- Trả lại cho bị cáo số tiền 1.150.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

( Theo giấy nộp tiền ngày 15/04/2020 vào tài khoản Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàng Mai tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam)

[4]. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[5]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án.

Cỡ chữ