- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Kiều H- Bùi Văn Ch"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Trần Kiều H và anh Bùi Văn Ch.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 209/2018/HNGĐ-ST Ngày 17-9-2018 V/v ly hôn giữa chị H và anh Ch |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Ái.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Văn Bình;
Ông Nguyễn Thành Thái.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Thắm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Én – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hải Hậu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 22/2018/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2018 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Kiều H, sinh năm 1983; địa chỉ: Ấp Rau Dừa C, xã HM, huyện CN, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Anh Bùi Văn Ch, sinh năm 1990; địa chỉ: Xóm Hải Điền, xã HĐ, huyện HH, tỉnh Nam Định.
(Chị H, anh Ch có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 21/6/2017 và quá trình tham gia tố tụng tại Toà án, nguyên đơn chị Trần Kiều H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Kiều H và anh Bùi Văn Ch đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 21/01/2013 tại Ủy ban nhân dân xã Hải Đông, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn. Trong cuộc sống chung vợ chồng, do anh Ch chơi bài bạc, cá độ, đánh đề và còn đánh đập con riêng của chị H nhiều lần, chị H đã can ngăn, khuyên nhủ nhưng anh Ch không thay đổi nên chị H đã sống ly thân với anh Ch. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị H đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh Ch.
- Về con chung: Chị H, anh Ch có một con chung là cháu Bùi Trần Ngọc Bảo Thư, sinh ngày 22/04/2014, hiện nay cháu Thư đang ở cùng chị H. Khi ly hôn, chị H có nguyện vọng xin nuôi dưỡng cháu Thư và không yêu cầu anh Ch cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và công nợ: Chị H xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, công nợ chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 01/3/2018, bị đơn anh Bùi Văn Ch có lời khai phù hợp với lời khai của chị Trần Kiều H về thời gian kết hôn, quá trình chung sống. Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng theo anh Ch là do hai người có quan điểm sống không hợp nhau. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 5 năm 2017 đến nay. Nay chị H làm đơn xin ly hôn, anh Ch xác nhận tình cảm vợ chồng không còn nên nhất trí ly hôn.
- Về con chung: Anh Ch xác nhận vợ chồng có 01 con chung như chị H đã trình bày là đúng. Khi ly hôn, anh Ch nhất trí giao con chung cho chị H nuôi dưỡng, anh Ch không phải cấp dưỡng tiền nuôi con.
- Về tài sản chung và công nợ: Anh Ch xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, không vay nợ của ai và không cho ai vay nợ nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phám và Hội đồng xét xử, các đương sự tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghỉ nghị án đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Do nguyên đơn, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị H, anh Ch.
Về nội dung, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Xử cho ly hôn giữa chị H và anh Ch. Về con chung: Giao con chung là cháu Bùi Trần Ngọc Bảo Thư, sinh ngày 22/04/2014 cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình, anh Ch không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con cho chị H. Về tài sản chung và công nợ: Do chị H, anh Ch không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Trần Kiều H phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Do nguyên đơn, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị H, anh Ch là phù hợp.
Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ vợ chồng giữa chị Trần Kiều H và anh Bùi Văn Ch là quan hệ hôn nhân hợp pháp vì được xây dựng trên cơ sở tự nguyện và được UBND xã Hải Đông, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định đăng ký kết hôn ngày 21/01/2013. Vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2017 thì mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do tính tình không hợp, không có tiếng nói chung trong cuộc sống. Đồng thời, theo xác minh tại địa phương, anh Ch một mình sinh sống tại xã Hải Đông từ tháng 5 năm 2017 đến nay mà không chung sống cùng chị H. Nay chị H đề nghị xin được ly hôn với anh Ch, anh Ch nhất trí.
Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh Ch là trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận nguyện vọng xin ly hôn của chị H và anh Ch là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị Trần Kiều H và anh Bùi Văn Ch có 01 con chung là cháu Bùi Trần Ngọc Bảo Thư, sinh ngày 22/04/2014, hiện cháu Thư đang ở với chị H. Khi ly hôn, chị H, anh Ch đều đề nghị để chị H tiếp tục nuôi dưỡng cháu Thư, anh Ch không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Xét nguyện vọng nuôi dưỡng con chung chưa thành niên của chị H, anh Ch thì thấy: Hiện cháu Thư còn nhỏ và đang được chị H trực tiếp nuôi dưỡng nên cần tiếp tục giao con chung là cháu Bùi Trần Ngọc Bảo Thư cho chị Trần Kiều H nuôi dưỡng đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình. Anh Ch không phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho chị H là phù hợp với Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung và công nợ: Chị H, anh Ch đều xác nhận không có tài sản chung, công nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên về tài sản chung và công nợ không đặt ra giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Kiều H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Trần Kiều H và anh Bùi Văn Ch.
2. Về con chung: Giao cháu Bùi Trần Ngọc Bảo Thư, sinh ngày 22/4/2014 cho chị Trần Kiều H tiếp tục nuôi dưỡng đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình. Anh Bùi Văn Ch không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con cho chị Trần Kiều H mà có quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở quyền thăm nom con chung nhưng anh Ch không được lạm dụng việc thăm con để gây cản trở hoặc làm ảnh hưởng xấu đến việc nuôi dưỡng con.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Kiều H phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số AA/2015/0002408 ngày 01 tháng 3 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu; chị Trần Kiều H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt bản án hợp lệ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Thái Bùi Văn Mạnh
Vũ Văn Ái Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh;
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện + tỉnh;
- Chi cục THADS huyện Hải Hậu;
- UBND xã Hải Đông;
- Đương sự;
- Hồ sơ vụ án;
- Lưu văn phòng.
Vu Văn Ái
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND huyện + tỉnh; - Chi cục THADS huyện Hải Hậu; - UBND xã Hải Phong; - Đương sự; - Hồ sơ vụ án; - Lưu văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vu Văn Ái |