- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc P - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 46 Bộ luật Hình sự
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 209/2017/HSST Ngày: 24/7/2017. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Bá Hiệp.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Thái Thục Hiền.
2/ Bà Trần Nguyễn Ngọc Phượng.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Đạt – Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Văn Khá – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 215/2017/HSST ngày 06 tháng 6 năm 2017 đối với bị cáo:
Nguyễn Ngọc P; giới tính: Nam; sinh năm: 1974; tại: Long An; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: ấp Long Mỹ, xã Mỹ Lệ, huyện Cần Đước, tỉnh Long An; chỗ ở: Không nơi ở nhất định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 3/12; nghề nghiệp: Không; con ông Nguyễn Văn L và bà Trần Thị Đ, có vợ Nguyễn Thị M (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2000; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 01/12/2016, chuyển sang tạm giam từ ngày 07/12/2016 cho đến nay. (có mặt tại phiên tòa)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1/ Ông Hồ Minh H, sinh năm: 1989; nơi cư trú: Trần Quốc Thảo, Phường 7, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt tại phiên tòa)
2/ Ông Huỳnh Vĩnh T, sinh năm: 1967; nơi cư trú: Bãi Sậy, Phường 4, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt tại phiên tòa)
3/ Bà Bùi Thị H1, sinh năm: 1986; nơi cư trú: Đường số 1, phường Trường Thạnh, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt tại phiên tòa)
4/ Bà Phạm Thị N, sinh năm: 1977; nơi cư trú: Trần Xuân Soạn, phường Tân Hưng, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt tại phiên tòa)
5/ Bà Nguyễn Thị Ngọc H2, sinh năm: 1995; nơi cư trú: Đặng Chất, Phường 2, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt tại phiên tòa)
NHẬN THẤY:
Bị cáo Nguyễn Ngọc P bị Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố hành vi phạm tội như sau:
Vào khoảng 15 giờ 00 ngày 01/12/2016, Công an Phường 1, Quận 8 kiểm tra hành chính Phòng 204 khách sạn Trung Nam số 61 Dương Bá Trạc, Phường 1, Quận 8 do Nguyễn Ngọc P thuê. Qua kiểm tra, công an thu giữ trong tủ quần áo 01 hộp thiếc bên ngoài ghi chữ MAXMAN bên trong có 01 gói nylon chứa 11 viên nén hình tròn, màu đỏ đô, khắc chữ A, 01 cục tinh thể không màu; 02 gói nylon chứa tinh thể không màu; 01 gói nylon chứa chất bột màu trắng; 01 gói giấy bạc chứa chất bột màu trắng (P khai nhận là ma túy dùng để bán); 01 điện thoại di động; 01 cân tiểu ly. Khi kiểm tra Phòng 204, trong phòng còn có các NLQ2,3,4,5. Nên Công an Phường 1 đưa P cùng vật chứng về trụ sở lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và mời các NLQ2,3,4,5 về trụ sở làm việc. Sau đó, vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 điều tra làm rõ.
Theo bản kết luận giám định số 87/KLGĐ-H ngày 03/01/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hồ Chí Minh kết luận: 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Ngọc P và hình dấu Công an Phường 1, Quận 8 gửi đến giám định bên trong có :
- Tinh thể không màu trong 02 gói nylon là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0.5260g, loại Methamphetamine.
- Bột màu trắng trong 01 gói nylon có khối lượng 0,3289g, không tìm thấy các chất ma túy thường gặp.
- Bột màu trắng trong 01 gói giấy bạc là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0176g, loại Heroine.
- 01 gói nylon chứa :
+ 11 viên nén tròn màu đỏ đô trong 01 gói nylon là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 3,1499g, loại Ketamine.
+ 01 cục tinh thể không màu có khối lượng 1.3637g, không tìm thấy các chất ma túy thường gặp.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra công an quận 8, Nguyễn Ngọc P khai nhận : Do cần tiền tiêu xài và sử dụng ma túy nên từ tháng 11/2016 P thường đến khu vực Công viên 23 tháng 9 phường Phạm Ngũ Lão, Quận 1 mua ma túy của nhiều người (không xác định được lai lịch), sau đó phân chia thành nhiều gói nhỏ rồi bán lại cho người mua nhằm thu lợi. Đến ngày 26/11/2016, P đến thuê phòng 204 khách sạn Trung Nam nêu trên để ở. Khoảng 19 giờ 30 phúc, ngày 30/11/2016, P đến khu vực Công viên 23 tháng 9 gặp người đàn ông tên Trung (không rõ lai lịch) mua 11 viên ma túy tổng hợp với giá 1.500.000 đồng và mua của người phụ nữ tên Như (không rõ lai lịch) 02 gói ma túy tổng hợp, 01 cục tinh thể không màu, 01 gói nylon chứa chất bột màu trắng và 01 gói giấy bạc chứa Heroine với tổng số tiền là 1.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, P mang về để ma túy trong một hộp thiếc bên ngoài có chữ MAXMAN rồi cất vào trong tủ quần áo trong Phòng 204 khách sạn Trung Nam. Đến khoảng 08 giờ 00 ngày 01/12/2016, P tiếp tục đến Công viên 23 tháng 9 mua của 01 người phụ nữ (không rõ lai lịch) 01 gói ma túy tổng hợp với giá 300.000 đồng cất giữ để sử dụng. Đến khoảng 10 giờ 00 cùng ngày 01/12/2016, khi P đang sử dụng ma túy tại Phòng 204 thì NLQ2, NLQ3 đến xin P cùng sử dụng. Sau đó, NLQ4, NLQ5 đến phòng của P chơi thì bị công an kiểm tra bắt quả tang như trên.
01 điện thoại di động hiệu Mobile LV218 thu giữ của P dùng để liên lạc mua bán ma túy.
Tại bản cáo trạng số 210/CT-VKS ngày 01/6/2017 Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố Nguyễn Ngọc P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Tại phiên tòa,
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 04 năm tù theo khoản 1, khoản 5 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Phạt tiền bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
Về vật chứng vụ án: Tịch thu, tiêu hủy: 01 gói biêm phong, 01 cân tiểu ly, 01 hộp thiếc ghi chữ MAXMAN thu giữ của bị cáo.
Tịch thu, sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại Mobile LV218 thu giữ của bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo,
XÉT THẤY:
Tại phiên tòa, Nguyễn Ngọc P thừa nhận: Khoảng 15 giờ 00, ngày 01/12/2016, tại Phòng 204 khách sạn Trung Nam số 61 Dương Bá Trạc, Phường 1, Quận 8, Công an thu giữ trong tủ quần áo 01 hộp thiếc bên ngoài ghi chữ MAXMAN, bên trong có 01 gói nylon bên trong chứa 11 viên nén hình tròn, màu đỏ đô, khác chữ A, 01 cục tinh thể không màu; 02 gói nylon chứa tinh thể không màu; 01 gói nylon chứa chất bột màu trắng, 01 gói giấy bạc chứa chất bột màu trắng. Đây là ma túy của P mua để bán.
Qua giám định thì:
01 gói nylon bên trong chứa 11 viên nén hình tròn, màu đỏ đô, khác chữ A, là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 3,1499g, loại Ketamine.
02 gói nylon chứa tinh thể không màu, là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,5260g, loại Methamphetamine.
01 gói giấy bạc chứa chất bột màu trắng, là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0176g, loại Heroine.
Còn lại: 01 cục tinh thể không màu; 01 gói nylon chứa chất bột màu trắng thì không tìm thấy các chất ma túy thường gặp.
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với nội dung của bản cáo trạng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận bị cáo đã phạm tội mua bán trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Xét thấy, hành vi của bị cáo là có thu lợi bất chính nên áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Đối với những người bán ma túy cho bị cáo do không rõ lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 không có căn cứ xử lý nên không đề cập giải quyết.
Đối với các NLQ2, 3, 4, 5 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an Quận 8 đã xử phạt hành chính nên không đề cập giải quyết.
Về vật chứng vụ án:
01 gói niêm phong chứa ma túy và các chất không tìm thấy chất ma túy thường gặp là vật cấm lưu hành, 01 cân tiểu ly, 01 hộp thiếc ghi chữ “MAXMAN” là Công cụ phạm tội nên tịch thu, tiêu hủy theo điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự.
01 điện thoại di động hiệu Mobile LV218 là phương tiện phạm tội nên tịch thu, sung quỹ Nhà nước điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về án phí: Theo điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009),
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc P 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/12/2016.
Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc P nộp 5.000.000 (năm triệu) đồng, để sung quỹ Nhà nước.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự,
Tịch thu, tiêu hủy:
01 (một) gói niêm phong bên ngoài ghi số 87/17/Q8, có các chữ ký của cán bộ Đỗ Đăng Khoa và chữ ký Giám định viên Trần Đình Hải.
01 (một) cân tiểu ly, 01 (một) hộp thiếc ghi chữ “MAXMAN”.
Tịch thu, sung quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Mobile LV218.
(Theo phiếu nhập kho vật chứng số 129/PNK ngày 15/5/2017 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8).
Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND Tp.Hồ Chí Minh; - VKSND Quận 8; - Chi cục THADS Quận 8; - PC.53; - Sở Tư pháp Tp.Hồ Chí Minh; - Đội CSBV&HTTP, NTG Quận 8; - Đội CSĐT THCA Quận 8; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - Lưu VT, hồ sơ vụ án. (14) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Huỳnh Bá Hiệp |