vanban.org

Bản án 208/2026/HSST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 31/07/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn Q 42 (bốn mươi hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 20/4/2026.

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong của Phòng PC09 - Công an Thành phố H, trên mép niêm phong có chữ ký của giám định viên PC09 - Trần Huy V, cán bộ Nguyễn Văn T, đối tượng Trần Văn Q. (Hiện đang được lưu trữ tại kho của Công an Thành phố H). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Trần Văn Q 42 (bốn mươi hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 20/4/2026.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 - HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 208/2026/HSST
Ngày: 31 - 7 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thúy;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Xuân Trường; bà Nguyễn Thị Sen;

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Như Hoàng Hải - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thơ - Kiểm sát viên.

Trong ngày 31 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 185/2026/TLST-HS ngày 07 tháng 7 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 204/2026/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2026, đối với bị cáo:

Trần Văn Q, sinh năm 1995 tại Thành phố Hà Nội; Nơi ĐKHKTT và cư trú: Cụm A, xã L, Thành phố H; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H và bà Nguyễn Thị M; có vợ và 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: không. D bản, chỉ bản số 251 do Công an Thành phố H lập ngày 23/4/2026.

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/4/2026, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an Thành phố H, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma tuý Heroin. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 20/04/2026, Trần Văn Q điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh không nhớ BKS (Q khai, mượn của anh H1 - quê Thanh Hóa, hiện không xác định được địa chỉ tên tuổi cụ thể) đi từ nhà ở cụm A, xã L, thành phố H đến khu vực cầu gáo gặp và mua của một người đàn ông khoảng 40 tuổi, cao khoảng 1,70m, dáng người gầy, mặc quần bò mùa xanh, đi dép lê, đứng ven đường (hiện không xác định được nhân thân, lai lịch) 200.000 đồng ma túy “Heroin” và 200.000 đồng ma túy “đá” để trong 01 túi nilong màu trắng bên trong có chứa tinh thể màu trắng là ma túy “Heroin” và ma túy “đá”. Sau khi mua được ma túy Q đã điều khiển máy về nhà rồi đi ra chỗ bàn uống nước gần chuồng gà sử dụng hết số ma túy “đá”, còn số ma túy “Heroine” thì Q cất ở trong túi quần bên phải đang mặc rồi đi bộ đi xem câu cá ở khu M đoạn gần bờ giếng thuộc cụm A, xã L, Thành phố H. Đến khoảng 14 giờ 30 cùng ngày thì Q bị lực lượng Công an xã L kiểm tra, phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.

Vật chứng thu giữ của Trần Văn Q:

- 01 (một) túi nilong màu trắng, kích thước (1,5x2)cm, bên trong chứa tinh bột màu trắng.

Ngày 21/4/2026, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, đã ra quyết định trưng cầu giám định chất ma túy thu giữ của Trần Văn Q.

Tại Kết luận giám định số: 3976/KL-KTHS ngày 30/4/2026, của Phòng Phòng K - C, kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói nilông màu trắng là ma túy loại Heroin, khối lượng: 0,152gam.

Bản cáo trạng số 92/CT-VKSKV8 ngày 06 tháng 7 năm 2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Hà Nội truy tố Trần Văn Q về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Trần Văn Q đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 tại phiên tòa trình bày luận tội giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Văn Q về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn Q từ 42 tháng đến 48 tháng tù. Không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong của Phòng PC09 - Công an Thành phố H, trên mép niêm phong có chữ ký của giám định viên PC09 - Trần Huy V, cán bộ Nguyễn Văn T, đối tượng Trần Văn Q.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Điều tra viên và Cơ quan điều tra, Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Hà Nội đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự tố tụng và các căn cứ để ban hành các văn bản và quyết định tố tụng đúng theo qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có khiếu nại gì đối với quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tố tụng và người tiến hành tố tụng.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn Q đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Do có nhu cầu sử dụng ma tuý Heroin. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 20/04/2026, Trần Văn Q đến khu vực Cầu G gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 200.000 đồng ma túy “heroin” và 200.000 đồng ma túy “đá”. Sau khi mua được ma túy Q đã sử dụng hết số ma túy “đá”, còn số ma túy “Heroine” thì Q cất ở trong túi quần bên phải đang mặc rồi đi bộ đi xem câu cá ở khu M đoạn gần bờ giếng thuộc cụm A, xã L, Thành phố H . Đến khoảng 14 giờ 30 ngày 20 tháng 4 năm 2026, thì bị Tổ Công tác Công an xã L, Thành phố H phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng. Theo kết luận giám định, số ma túy thu giữ của Q là ma túy loại Heroin có tổng khối lượng 0,152 gam.

Hành vi cất giấu 0,152 gam Heroin trên người của Q không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển mà chỉ là để sử dụng nên xác định Q tàng trữ trái phép chất ma túy. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Q đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, biết Nhà nước cấm sử dụng, tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Hành vi của Q đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 8 truy tố bị cáo theo tội danh và viện dẫn điều luật là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến việc quản lý của nhà nước về các chất ma túy, mà còn gây mất trật tự trị an xã hội. Bởi lẽ, ma túy là chất gây nghiện nhà nước cấm mua bán, sử dụng; ma túy còn làm ảnh hưởng đến sức khỏe của người sử dụng, là một trong những nguyên nhân dẫn đến tội phạm hình sự và tệ nạn xã hội. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần xét xử bị cáo mức hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự thì ngoài hình phạt chính còn quy định hình phạt bổ sung là phạt tiền, xét bị cáo là lao động tự do, không có điều kiện về kinh tế để đảm bảo cho việc thi hành án nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung.

Trần Văn Q khai mua ma tuý của một người đàn ông khoảng 40 tuổi, cao khoảng 1,70m, dáng người gầy, mặc quần bò mùa xanh, đi dép lê, đứng ven đường. Cơ quan điều tra đã rà soát nhưng không rõ người đàn ông đã bán ma túy cho Q là ai, ở đâu nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với hành vi sử dụng ma túy của Trần Văn Q vào ngày 20/4/2026: Quá trình điều tra xác định Trần Văn Q không thuộc diện quản lý về ma túy tại địa phương nên không có căn cứ xử lý hình sự về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự. Ngày 25/6/2026, Công an xã L ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 27 đối với Trần Văn Q về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 30 Nghị định 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 của Chính phủ, hình thức phạt “ Cảnh cáo” là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xử lý vật chứng: Đối với số ma tuý trong 01 phong bì niêm phong của Phòng PC09 - Công an Thành phố H, trên mép niêm phong có chữ ký của giám định viên PC09 – Trần Huy V, cán bộ Nguyễn Văn T, đối tượng Trần Văn Q, là vật chứng cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

Án phí: Bị cáo Trần Văn Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Văn Q có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn Q 42 (bốn mươi hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 20/4/2026.

2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong của Phòng PC09 - Công an Thành phố H, trên mép niêm phong có chữ ký của giám định viên PC09 - Trần Huy V, cán bộ Nguyễn Văn T, đối tượng Trần Văn Q.

(Hiện đang được lưu trữ tại kho của Công an Thành phố H).

3. Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Văn Q phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. 4. Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo Trần Văn Q có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ