vanban.org

Bản án 208/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Sỹ Hồng T .

Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Sỹ Hồng T ly hôn với ông Huỳnh Phi L . Về nuôi con chung: Giao trẻ Huỳnh Kim Thiên Y, sinh ngày 30/8/2017 cho bà Sỹ Hồng Tươi trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Sỹ Hồng Tươi - Huỳnh Phi Long"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Sỹ Hồng T .
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 208/2024/HNGĐ-ST
Ngày 02 - 8 - 2024
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Giang Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Hoàng Ảnh

Ông Nguyễn Văn Hiển

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều Chinh là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.

Ngày 02 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 269/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2024 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 206/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Sỹ Hồng T , sinh năm 1982.

Địa chỉ cư trú: Ấp Bàu Sen, xã Tân Duyệt, huyện Đ , tỉnh C .

Chỗ ở hiện nay: Ấp Tân Thành, xã Nguyễn Huân, huyện Đ , tỉnh C . (vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Huỳnh Phi L , sinh năm 1982.

Địa chỉ cư trú: Ấp Bàu Sen, xã Tân Duyệt, huyện Đ , tỉnh Cà Mau. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện đề ngày 06/6/2024 trong qúa trình giải quyết nguyên đơn bà Sỹ Hồng T trình bày:

Về hôn nhân: Bà T với ông L kết hôn vào năm 2006, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Nguyễn Huân, huyện Đ , tỉnh C . Quá trình chung sống vợ chồng bất đồng quan điểm do không hòa hợp, không có tiếng nói chung và ông L có người phụ nữ khác, mâu thuẫn đã được gia đình hai bên hòa giải, hàn gắn nhưng ông L không khắc phục dẫn đến vợ chồng ly thân từ năm 2023 đến nay. Nay, bà T yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông L .

Về con chung: Huỳnh Kim Thiên Y, sinh ngày 30/8/2017, hiện trẻ đang chung sống cùng bà. Khi ly hôn, bà T yêu cầu được nuôi trẻ Y; cấp dưỡng không đặt ra.

Về tài sản chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà T xác định không có.

- Đối với bị đơn ông Huỳnh Phi L : Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho ông L theo quy định pháp luật, nhưng ông L không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà T .

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Vào ngày 23/7/2024 bà T có đơn xin vắng mặt; ông L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng nhưng ông L vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng tiến hành xét xử vắng mặt bà T và ông L .

Về quan hệ hôn nhân. Bà T với ông L kết hôn vào năm 2006, ông bà đăng ký kết hôn ngày 11/10/2017 theo giấy chứng nhận số 391, quyển số 01 tại Uỷ ban nhân dân xã Nguyễn Huân, huyện Đ , tỉnh C , hôn nhân ông bà hợp pháp.

Xét bà T yêu cầu ly hôn với ông L thấy rằng, Tòa án đã thông báo thụ lý vụ án, thông báo hòa giải và triệu tập hợp lệ ông L nhiều lần để tham gia hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông L vắng mặt và không có ý kiến đối với yêu cầu của bà T . Ngoài ra, bà Tươi xác định vợ chồng ông bà đã ly thân từ năm 2023 đến nay, mỗi người có cuộc sống riêng, không ai quan tâm ai nên đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc gia đình. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau…”. Viện dẫn theo điều luật trên thấy rằng, tình trạng hôn nhân giữa bà T với ông L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của bà T về việc ly hôn với ông L .

Về nuôi con chung: Khi ly hôn bà T yêu cầu được nuôi trẻ Huỳnh Kim Thiên Y, sinh ngày 30/8/2017. Hội đồng xét xử xét thấy rằng, tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình quy định “...nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con...”. Viện dẫn theo điều luật trên thấy rằng, theo văn bản ghi nguyện vọng trẻ Y ngày 09/7/2024, trẻ Y có nguyện vọng ở với bà T nên giao trẻ Y cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Ông Huỳnh Phi L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà T không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung: Bà T không yêu nên không đặt ra xem xét.

Về nợ chung: Bà T xác định không có.

Án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định: “Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn”. Do đó, bà T phải chịu án phí 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81; khoản 2 Điều 82; khoản 2 Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Sỹ Hồng T .

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Sỹ Hồng T ly hôn với ông Huỳnh Phi L .

2. Về nuôi con chung: Giao trẻ Huỳnh Kim Thiên Y, sinh ngày 30/8/2017 cho bà Sỹ Hồng Tươi trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Ông Huỳnh Phi L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Sỹ Hồng T phải chịu 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0001348 ngày 11/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi; bà T đã nộp đủ án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bà Sỹ Hồng T và ông Huỳnh Phi L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ