vanban.org

Bản án 208/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 16/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Lê Thành N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: bị cáo Lê Thành N 03 (ba) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày 13/04/2022. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thành N - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Lê Thành N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 208/2022/HS-ST
Ngày 16 - 11- 2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Liên Quân.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Văn Chính.

2. Bà Lê Thị Khanh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hà Kim Thông - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 11 năm 2022, tại Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 200/2022/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 224/2022/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2022, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Thành N, sinh ngày 26 tháng 6 năm 2002 tại Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: 3/20 ấp Đ, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Trọng N và bà Nguyễn Thị Thu T; tiền án: Tại Bản án số: 146/2020/HS-ST ngày 18/9/2020 của Tòa án nhân dân thị xã Mỹ Xuyên, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt 02 năm tù về tội “Cướp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/9/2021; tiền sự: không; bị cáo đang bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hóc Môn từ ngày 13/04/2022. (có mặt)

Bị hại: Anh Giang Thành T, sinh ngày 20 tháng 5 năm 2001.

Địa chỉ: 45/2D đường N, ấp M, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ ngày 13/4/2022, Lê Thành N và Phạm Phong P đang cùng nhau bán thịt bò tại Chợ đầu mối nông sản Hóc Môn thì giữa anh P và chị Nguyễn Thị Thùy D xảy ra cãi nhau do cạnh tranh về giá bán thịt bò, anh P cầm 01 cây rựa đi sang chém bể cân điện tử của chị D rồi quay về và bỏ cây rựa lên xe máy biển số 53V1-1593 (dùng để chở thịt bò đi bán). Lúc này, anh P phát hiện chị Trần Thị Ngọc T đang bán hàng ở sạp đối diện sử dụng điện thoại di động quay lại cảnh anh P chém bể cân của chị D nên đi đến chỗ chị T yêu cầu xóa đoạn camera. Chị T nói không có quay nên hai bên cãi nhau và anh P dùng tay chỉ vào mặt chị T. Giang Thành T (con trai chị T) đang bán hàng cùng mẹ thấy vậy nên đi đến dùng tay cặp vào cổ anh P. Lê Thành N sợ anh P bị T đánh, nên đến xe máy lấy cây rựa chém vào người của Tgây thương tích. Sau đó, T được đưa đến bệnh viện cấp cứu và vụ việc được trình báo đến Công an xã Xuân Thới Đông xử lý.

Tại kết luận giám định pháp y về thương tích số 472/TgT.22 ngày 22/6/2022 của Trung Tâm pháp Y TP.Hồ Chí Minh kết luận thương tích của Giang Thành T như sau:

- Chấn thương vùng cổ trái gây xước da nông đã được điều trị, hiện còn một diện tăng giảm sắc tố kích thước 10x2,5cm, tình trạng ổn định. Có tỉ lệ 01%. Chấn thương do vật có cạnh tác động gây ra.

- Đa vết thương phần mềm đã được điều trị, hiện còn: Một sẹo vùng lưng trái kích thước 10,1x(0,3-0,7)cm, ổn định, tỉ lệ 02%; Một sẹo mặt ngoài 1/3 giữa cánh tay trái kích thước 1,8x0,7cm có đuôi tận nông hai đầu. Vận động, cảm giác tay trái bình thường, tỉ lệ 2,5%. Hai vết thương trên do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc tác động gây ra.

- Vết thương mặt sau trong 1/3 giữa cánh tay trái gây đứt da, đứt gân cơ, gãy xương cánh tay đã được điều trị phẫu thuật kết hợp xương, khâu gân, cơ, da, hiện còn: Một sẹo kích thước 5x(0,3-0,8) cm; Một sẹo mổ kích thước 11,5x(0,2-0,4)cm; Hình ảnh gãy xương có dụng cụ kết hợp xương trên phim Xquang; Vận động, cảm giác tay trái không giới hạn. Có tỉ lệ 15%. Vết thương do vật sắc, vật sắc nhọn tác động gây ra. Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra là 20%.

Các thương tích trên không nguy hiểm đến tính mạng đương sự.

Kết luận định giá tài sản số 120/KL-HĐĐGTS ngày 11/8/2022 của huyện Hóc Môn định giá 01 cân điện tử hiệu UTE UPA-Q 30 kg có giá là 300.000đồng.

Bản cáo trạng số: 193/CT-VKS-HS ngày 29/09/2022 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lê Thành N về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn giữ quyền công tố tại phiên tòa xác định: Căn cứ vào lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai tại phiên tòa hôm nay của bị cáo cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Lê Thành N phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38 Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xử phạt bị cáo Lê Thành N từ 03 năm đến 04 năm tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hóc Môn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản ghi lời khai, bị cáo trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Thành N khai nhận: Khoảng 06 giờ ngày 13/4/2022, tại quầy thịt bò Chợ đầu mối nông sản Hóc Môn, Bị cáo cùng bán thịt bò với anh Phạm Phong P. Do nghi ngờ bà Trần Thị Ngọc T đang bán hàng ở sạp đối diện sử dụng điện thoại di động quay lại cảnh anh P chém bể cân của bà Nguyễn Thị Thùy D, nên giữa anh P với bà To cự cải nhau và con của bà T là anh Giang Thành T có hành vi dùng tay cặp cổ anh P. Từ đó, bị cáo lấy cây rựa đang để trên xe chém vào người của Giang Thành T gây thương tích đúng như nội dung cáo trạng truy tố. Bị cáo xác định thương tích của Giang Thành T là do bị cáo gây ra, hành vi của bị cáo là tự phát và không có ai rủ rê, xúi giục.

Bị hại Giang Thành T xác định đã bị bị cáo Lê Thành N dùng hung khí chém vào lưng và tay gây thương tích đúng như lời khai trong quá trình điều tra và nội dung Cáo Trạng truy tố.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại Giang Thành T, phù hợp với lời khai của những người làm chứng và các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án.

Từ đó, có đủ cơ sở chứng minh, sáng ngày 13/4/2022 tại địa chỉ: 45/2D ấp M, xã X, huyện H, Lê Thành N dùng cây rựa gây thương tích cho anh Giang Thành T với tỉ lệ tổn thương cơ thể 20%. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, Cáo trạng số: 193/CT-VKS-HS ngày 29/09/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Lê Thành N về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ và đúng pháp luật.

Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

...

i) Có tính chất côn đồ;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.”

Áp dụng điều luật viện dẫn nêu trên cho thấy, hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, đã xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người khác một cách trái pháp luật với lỗi cố ý trực tiếp, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền án về hành vi “Cướp tài sản” chưa được xóa án tích, tiếp tục phạm tội mới. Nên hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo để đảm bảo tính răn đe của pháp luật và giáo dục phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử có xem xét, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo và gia đình đã tích cực bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Từ đó, cần giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Ý kiến đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ và mức hình phạt đối với bị cáo của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn là có căn cứ, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị hại Giang Thành T yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại các khoản là 45.000.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường các khoản thiệt hại theo yêu cầu của bị hại. Việc thỏa thuận bồi thường thiệt hại giữa bị cáo và bị hại là tự nguyện, không trái pháp luật, nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Như vậy, bị cáo Lê Thành N có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho bị hại Giang Thành T các khoản là 45.000.000 đồng. Quá trình điều tra, gia đình bị cáo Lê Thành N đã bồi thường số tiền 12.000.000 đồng, nên bị cáo có nghĩa vụ tiếp tục bồi thường cho bị hại 33.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 cây rựa cán gỗ, lưỡi mũi bầu bằng kim loại dài khoảng 80 cm; 01 cái ghế nhựa màu xanh bị bể và gãy 02 chân, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 USB chứa hình ảnh 02 đoạn camera ghi nhận diễn biến vụ việc Phi đập cân điện tử của chị Dung và Nhựt dùng dao gây thương tích cho Tài, tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

Quá trình điều tra có đủ cơ sở xác định bị cáo Lê Thành N cầm cây rựa chém anh Giang Thành T gây thích là tự phát và không có bàn bàn bạc, trao đổi trước với anh Phạm Phong P, nên Cơ quan điều tra nhận định bị cáo Lê Thành N không có đồng phạm. Ngoài ra, anh Phạm Phong P có hành vi dùng cây rựa chặt bể cân điện tử hiệu UTE UPA-Q 30kg của bà Nguyễn Thị Thùy D được định giá là 300.000 đồng, nên không đủ định lượng xử lý Phạm Phong P về tội “Hủy hoại tài sản” là phù hợp.

Án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự có giá ngạch bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38; điểm b, s khoản 1 Điều 51 và điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ vào Điều 47 và Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; các Điều 357, 468, 585 và 590 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên bố: bị cáo Lê Thành N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: bị cáo Lê Thành N 03 (ba) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày 13/04/2022.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 01 cây rựa cán gỗ, lưỡi mũi bầu bằng kim loại dài khoảng 80 cm; 01 cái ghế nhựa màu xanh bị bể và gãy 02 chân;

Tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án 01 USB chứa hình ảnh 02 đoạn camera ghi nhận diễn biến vụ việc Phi đập cân điện tử của chị Dung và Nhựt dùng dao gây thương tích cho Tài;

Vật chứng hiện nay Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn đang quản lý, theo Quyết định chuyển vật chứng số: 160/QĐ-VKS-HS ngày 29/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn và biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/9/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn.

Về dân sự: Công nhận sự thỏa thuận về yêu cầu bồi thường thiệt hại giữa bị hại Giang Thành T và bị cáo Lê Thành N. Buộc Lê Thành N có nghĩa vụ tiếp tục bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho anh Giang Thành T số tiền 33.000.000 đồng (ba mươi ba triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong khoản tiền bồi thường nêu trên, hàng tháng bị cáo Lê Thành N còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Lê Thành N phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng). Án phí dân sự có giá ngạch bị cáo Lê Thành N phải chịu 1.650.000đ (một triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng);

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ