vanban.org

Bản án 208/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Tuyên án 07/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Trần Minh V phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.

2/ Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Trần Minh V 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/12/2021. 3/ Về biện pháp tư pháp: Không có. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Minh V - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (điều 341 Luậ…"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Trần Minh V phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 208/2021/HS-ST
Ngày: 07-12-2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Đạo.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Thượng Văn Kịnh.

2/ Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Tất Minh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 89/2021/TLST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 137/2021/QĐXXST-HS ngày 14/5/2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 85/2021/HSST-QĐ ngày 28/5/2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Minh V, sinh ngày 01/01/1990. Tại: Kiên Giang. Nơi ĐKHKTT: Ấp KM, xã HY, huyện AB, tỉnh Kiên Giang. Trình độ học vấn: 6/12. Nghề nghiệp: Tài xế; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Trần Văn Đ và bà Phạm Thị T; Vợ: Trương Thị Mỹ Q, có 01 con sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 02/12/2021; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 25 phút ngày 28/7/2020, trong lúc Tổ tuần tra kiểm soát của Phòng Cảnh sát giao thông tỉnh Bình Dương đang tiến hành tuần tra kiểm soát trên Quốc lộ x, đoạn qua phường Đ, thành phố M, tỉnh Bình Dương, thì phát hiện Trần Minh V điều khiển xe ô tô tải đầu kéo biển số 51C-400.xx, kéo theo sơ mi rơ mooc tải biển số 51R-049xx lưu thông trên Quốc lộ 13 theo hướng từ thành phố TA về hướng thị xã BC và vượt đèn đỏ tại giao lộ Quốc lộ x và đường NVL nên Tổ tuần tra yêu cầu V dừng xe để tiến hành kiểm tra hành chính và lập biên bản về lỗi vượt đèn đỏ của V thì V xuất trình (01) Giấy chứng minh nhân dân mang tên Trần Văn T do Công an Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 07/5/2018 và 01 (một) Giấy phép lái xe mang tên Trần Văn T, số 750127015xxx, hạng FC do Sở Giao thông Vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 07/5/2018. Sau đó, Tổ tuần tra của Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bình Dương tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính số 011961, quyển số 240 về hành vi không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệu giao thông và lập biên bản tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thủ tục hành chính số 000929 ngày 28/7/2020 và tạm giữ: 01 (một) ô tô tải đầu kéo biển số 51C-400.xx, kéo theo sơ mi rơ mooc tải biển số 51R-049xx; (01) Giấy chứng minh nhân dân mang tên Trần Văn T do Công an Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 07/5/2018 và 01 (một) Giấy phép lái xe mang tên Trần Văn T, số 750127015xxx, hạng FC do Sở Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 07/5/2018. Tất cả 02 (hai) biên bản trên V đều ký và ghi rõ họ tên là Trần Văn T.

Sau khi lập biên bản vi phạm hành chính và tạm giữ phương tiện và các giấy tờ nêu trên, do nghi ngờ giấy tờ mà Trần Minh V xuất trình khi bị kiểm tra hành chính là giả nên ngày 03/8/2020 Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bình Dương đã yêu cầu Trần Minh V đến làm việc thì V thừa nhận các giấy tờ mà V xuất trình khi bị kiểm tra hành chính là giả nên ngày 04/8/2020 Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bình Dương chuyển hồ sơ vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương để xử lý theo thẩm quyền.

Ngày 21/8/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một ra Quyết định trưng cầu giám định số 527/QĐGĐ, trưng cầu giám định (01) Giấy chứng minh nhân dân mang tên Trần Văn T do Công an Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 07/5/2018 và 01 (một) Giấy phép lái xe mang tên Trần Văn T, số 750127015xxx, hạng FC do Sở Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 07/5/2018, có dán ảnh của V là thật hay giả.

Căn cứ Bản kết luận giám định số 356/GĐ-PC09 ngày 24/9/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận: Giấy chứng minh nhân dân mang tên Trần Văn T, số 191686xxx, do Công an Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 08/5/2016 và Giấy phép lái xe mang tên Trần Văn T, số 750127015xxx, do Sở Giao thông Vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 07/5/2018, có dán ảnh của Trần Minh V là giả. Chữ viết, chữ ký T, họ tên Trần Văn T do V trên biên bản vi phạm hành chính của Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bình Dương lập vào ngày 28/7/2020, là do Trần Minh V viết và ký ra.

Quá trình xác minh và điều tra, Trần Minh V khai nhận như sau: Do không có Giấy phép lái xe hạng FC nên khoảng tháng 5/2020, V đã lên mạng xã hội Facebook đặt mua của một người nam thanh niên (hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch) 01 (một) Giấy chứng minh nhân dân mang tên Trần Văn T, số 191686xxx, do Công an Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 08/5/2016 và 01 (một) Giấy phép lái xe mang tên Trần Văn T, số 750127015xxx, do Sở Giao thông Vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 07/5/2018 với giá tiền là 4.500.000 (bốn triệu, năm trăm ngàn) đồng. Sau đó, V chụp hình ảnh mặt của V trên điện thoại đi động của V rồi gửi qua FaceBook cho người nam thanh niên. Sau đó, người nam thanh niên hẹn V đến khu vực Cầu Vượt S, địa chỉ tại thành phố DA, tỉnh Bình Dương để giao, nhận Giấy chứng minh nhân dân mang tên Trần Văn T, số 191686xxx, do Công an Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 08/5/2016 và Giấy phép lái xe mang tên Trần Văn T, số 750127015xxx, do Sở Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 07/5/2018 còn V giao số tiền 4.500.000 (bốn triệu, năm trăm ngàn) đồng.

Đối với 01 (một) Giấy chứng minh nhân dân mang tên Trần Văn T, số 191686xxx, do Công an Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 08/5/2016 và 01 (một) Giấy phép lái xe mang tên Trần Văn T, số 750127015xxx, do Sở Giao thông Vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 07/5/2018, xét thấy đây là tài liệu, chứng cứ xác định hành vi phạm tội của Trần Minh V nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một đưa vào hồ sơ vụ án và đánh số bút lục số 76-77.

Đối với xe ô tô tải đầu kéo biển số 51C-400.xx, kéo theo sơ mi rơ mooc tải biển số 51R-049xx ngày 03/8/2020 Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bình Dương đã trả lại cho Trần Minh V theo Biên bản trả lại phương tiện số 11961 ngày 03/8/2020.

Đối với người nam thanh niên (hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch) đã bán giấy tờ giả cho Trần Minh V tại cầu vượt S, thành phố DA, tỉnh Bình Dương, quá trình điều tra V khai nhận không rõ nhân thân, lai lịch của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Dầu Một tiếp tục xác minh, nếu có căn cứ thì xử lý sau theo quy định của pháp luật.

Cáo trạng số 100/CT-VKS-HS ngày 14/4/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo Trần Minh V về tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một trong phần tranh luận, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Trần Minh V mức hình phạt từ 01 năm tù đến 01 năm 03 tháng tù.

Về biện pháp tư pháp: Không đề nghị giải quyết.

Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là phù hợp với quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can cùng những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng tháng 5/2020, Trần Minh V có hành vi cung cấp hình ảnh để đặt làm 01 (một) giấy chứng minh nhân dân, 01 (một) giấy phép lái xe hạng FC (đều là giấy tờ giả) nhằm mục đích sử dụng. Do đó, hành vi mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” được quy định tại khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Tuy cáo trạng số 100/CT-VKS-HS ngày 14/4/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo về tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” nhưng căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ vụ án thể hiện: Bị cáo là người có nhu cầu đặt làm tài liệu giả nên đã lên mạng internet tìm và đặt mua các tài liệu này, ngoài ra còn cung cấp hình ảnh để đối tượng làm giả thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, hành vi của bị cáo cấu thành tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” với vai trò đồng phạm. Do tội danh mà Hội đồng xét xử xác định và tội danh mà Viện kiểm sát truy tố đều cùng một điểm, khoản, điều luật nên không thuộc trường hợp phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung theo quy định tại Điều 280, 298 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của Nhà nước, ảnh hưởng đến hoạt động của các Cơ quan nhà nước trong công tác quản lý. Về nhận thức, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ cá nhân mà bị cáo đã bất chấp sự trừng phạt của pháp luật, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, để có tác dụng giáo dục bị cáo đồng thời nhằm đấu tranh phòng chống tội phạm chung, cần có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi mà bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Căn cứ nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ, xét mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.

Về biện pháp tư pháp: Không có.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 136, 260, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1/ Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Trần Minh V phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.

2/ Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Trần Minh V 01 (một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/12/2021.

3/ Về biện pháp tư pháp: Không có.

4/ Về án phí: Buộc bị cáo nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ