vanban.org

Bản án 208/2019/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 28/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hồ Quốc P (M) phạm tội “Trộm cắp Tài sản”;

Xử phạt bị cáo Hồ Quốc P (M) 9 (chín) tháng tù. Thời hạ n tù đượ c tí nh kể từ ngà y tạ m giữ , tạm giam 17/7/2019. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hồ Quốc P (M) phạm tội “Trộm cắp Tài sản”;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 208/2019/HS-ST
Ngày: 28 - 11 -2019
NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Ngọc Hải.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Thành Viên

Bà Lê Thị Thanh Hồng

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tú – Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Dương Thanh Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2019 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 199/2019/TLST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 229/2019/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:

Hồ Quốc P (M), sinh năm 1991, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: đường N, Phường L, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Xuân H và bà Nguyễn Thị Hồng T; Có vợ Nguyễn Thị Cẩm T, sinh năm 1994 và có 02 con cùng sinh năm 2016; tiền sự: không; tiền án:không; Nhân thân: - Ngày 26/3/2014, Tòa án nhân dân quận Gò Vấp xử phạt 9 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đã xóa án) (Bản án số 76/2014/HSST). tạm giữ, tạm giam ngày: 17/7/2019; (Có mặt).

Bị hại: Bà Trần Thị T, sinh năm 1989; Trú tại: đường D, Phường O, quận G, TP. HCM; (Vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Hồng T, sinh năm 1971; Trú tại: đường N, Phường L, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 14/7/2019 Nguyễn Trần Công D điều khiển xe gắn máy hiệu Honda Vario biển số 59V3 – 157.35 đi trên đường thì Hồ Quốc P gọi điện thoại rủ đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền chia nhau tiêu xài, D đồng ý và chạy xe gắn máy đến khách sạn Mây Hồng địa chỉ:467/16 Hà Huy Giáp, phường Thạnh Xuân, quận 12 đón P, D đưa xe gắn máy của mình cho P chở D đi rảo trên các tuyến đường tìm tài sản sơ hở để lấy trộm, đến khoảng 20 giờ cùng ngày cả hai đến tiệm hớt tóc địa chỉ 49/1105M Dương Quãng Hàm, phường 6, quận Gò Vấp để hớt tóc. Sau khi hớt tóc xong đi ra thì P đi ra vào phòng số 2 trong hẻm 448 . Lúc này, D đi ra đậu xe gắn máy biển số 59V3 – 157.35 trước số nhà 448 Dương Quãng Hàm, phường 6, quận Gò Vấp, sát bên tiệm hớt tóc để cảnh giới còn P dùng 01 cây sắt nhỏ mở khóa cửa phòng trọ đột nhập vào bên trong lấy trộm 01 sợi dây chuyền vàng 18K, 02 nhẫn vàng 18K, 01 đồng hồ (không rõ nhãn hiệu) rồi đi ra và D giao xe gắn máy lại cho P để P chở D về khách sạn Mây Hồng. P nói với D là có chiếc xe máy nhưng không lấy được còn lại không lấy được gì. Đến ngày 15/7/2019 P mang toàn bộ số vàng đến bán tại tiệm vàng Kim Phát I địa chỉ 206 Nguyễn Văn Nghi, phường 7, quận Gò Vấp với giá 6.200.000 đồng tiêu xài cá nhân không chia cho D.

Qua truy xét Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Gò Vấp mời Hồ Quốc P và Nguyễn Trần Công D về làm việc. Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Hồ Quốc P khai nhận có trộm cắp tài sản tại địa chỉ 448 Dương Quảng Hàm, phường 6, quận Gò Vấp và xác nhận không bàn bạc với D trộm cắp tài sản, và khi trộm xong không nói là trộm được gì và khi bán vàng cũng không chia cho D. Nguyễn Trần Công D khai sau khi hớt tóc xong đi ra thấy P đi vào trong hẻm 448 Dương Quảng Hàm, phường 6, quận Gò Vấp, D biết P vào để trộm cắp tài sản nên đứng ngoài cảnh giới sau khi P trộm tài sản xong thì đi ra D giao xe cho P để P chở D về, P có nói với D là không trộm được tài sản gì, bản thân D không được chia tiền. Do đó, chưa đủ căn cứ xác định D đồng phạm với P về tội “ Trộm cắp tài sản” nên không xử lý hình sự đối với Nguyễn Trần Công D. Tuy nhiên, D có liên quan đến vụ án khác. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, điều tra khi nào có đủ căn cứ đề nghị xử lý sau.

Vật chứng gồm:

- 01 xe gắn máy hiệu Honda Vario biển số 59V3 – 157.35, qua làm việc với bà Nguyễn Thị Ngọc T (mẹ của D) trình bày xe này do bà bỏ tiền mua và nhờ D đứng tên hộ, việc D dùng xe này đi trộm cắp tài sản bà T không biết. Cơ quan triều tra đã trả lại xe biển số 59V3 – 157.35 cho bà T và D cả hai nhận lại xe không thắc mắc, khiếu nại gì về sau.

- 01 xe gắn máy hiệu Exciter biển số 59X2 – 111.02, Cơ quan điều tra đã thu giữ của Nguyễn Hồng C khi mời về làm việc. Qua xác minh biển số xe này là của chiếc xe Arbade, xác minh số khung, số máy thì không có trong cơ sở dữ liệu. Ngoài ra còn thu giữ của C 01 búa, 01 bình xịt hơi cay. Tuy nhiên, C và các vật chứng này không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã chuyển toàn bộ vật chứng này đến vụ án đã được khởi tố khác.

- 01 xe gắn máy hiệu Hoda Vario biển số 59S3 – 061.57, Cơ quan điều tra đã thu giữ khi mời Hồ Quốc P về làm việc. Qua xác minh xe này do bà Nguyễn Thị Hồng T (mẹ của P) đứng tên chủ sở hữu, xe này không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà T, bà T nhận lại tài sản và không thắc mắc gì.

Tại bản cáo trạng số 191/CTr-VKS, ngày 04/11/2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố Hồ Quốc P về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát sau khi luận tội và đưa ra quan điểm xét xử đã đề nghị:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b,s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung 2017;

- Xử phạt bị cáo Hồ Quốc P từ 01 năm đến 01 năm 6 tháng tù.

- Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì Hồ Quốc P đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Đối chiếu lời khai bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, cùng với tang vật đã thu giữ, phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan Công an quận Gò Vấp, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp và với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát trong quá trình Điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.

Do đó, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của Hồ Quốc P đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt trừng trị được quy định tại Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung 2017.

Lợi dụng sự sơ hở của bị hại, bị cáo đã lén lút lấy trộm tài sản rất táo bạo và liều lĩnh. Hành vi của bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được Pháp luật và Nhà nước bảo hộ. Mặt khác, còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội và tác động xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Chỉ vì muốn tiêu xài phục vụ cho những nhu cầu cá nhân của mình mà không phải thông qua lao động chân chính bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, việc xử lý bị cáo bằng biện pháp hình sự là hết sức cần thiết và đúng quy định của pháp luật. Do đó, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giúp cho bị cáo có điều kiện học tập cải tạo lại mình sau này biết tôn trọng pháp luật và tôn trọng tài sản của người khác.

Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo một số tình tiết: Tại Cơ quan điều tra và qua diễn biến phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thật thà khai báo thành khẩn nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải, bị hại đã có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, gia đình bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo để giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.

[5] Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo Hội đồng xét xử quyết định miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa hôm nay bị hại bà Trần Thị T vắng mặt nhưng qua hồ sơ thể hiện chị đã nhận được số tiền bồi thường tương đương tài sản bị chiếm đoạt không còn thắc mắc khiếu nại gì và có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử không đưa ra xem xét lại.

Đối với số tiền 8.395.000 đồng bà Nguyễn Thị Hồng T (mẹ ruột bị cáo P) thay bị cáo bồi thường cho bị hại. Tại phiên tòa hôm nay bà T vắng mặt, nhưng qua hồ sơ thể hiện bà không yêu cầu bị cáo trả lại và đồng ý cho luôn bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy đây là ý chí tự nguyện và không trái pháp luật nên ghi nhận.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 xe gắn máy hiệu Honda Vario biển số 59V3 – 157.35, qua làm việc với bà Nguyễn Thị Ngọc T (mẹ của D) trình bày xe này do bà bỏ tiền mua và nhờ D đứng tên hộ, việc D dùng xe này đi trộm cắp tài sản bà T không biết. Cơ quan triều tra đã trả lại xe biển số 59V3 – 157.35 cho bà T và D cả hai nhận lại xe không thắc mắc, khiếu nại gì về sau. Hội đồng xét xử xét thấy xe có nguồn gốc rõ ràng và việc trả lại xe đó phù hợp với quy định của pháp luật nên tại phiên tòa hôm nay không đưa ra xem xét lại.

- Đối với 01 xe gắn máy hiệu Exciter biển số 59X2 – 111.02, Cơ quan điều tra đã thu giữ của Nguyễn Hồng C khi mời về làm việc. Qua xác minh biển số xe này là của chiếc xe Arbade, xác minh số khung, số máy thì không có trong cơ sở dữ liệu. Ngoài ra còn thu giữ của C 01 búa, 01 bình xịt hơi cay. Tuy nhiên, C và các vật chứng này không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã chuyển toàn bộ vật chứng này đến vụ án đã được khởi tố khác.

- Đối với 01 xe gắn máy hiệu Hoda Vario biển số 59S3 – 061.57, Cơ quan điều tra đã thu giữ khi mời Hồ Quốc P về làm việc. Qua xác minh xe này do bà Nguyễn Thị Hồng T (mẹ của P) đứng tên chủ sở hữu, xe này không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà T, bà T nhận lại tài sản và không thắc mắc gì. Hội đồng xét xử xét thấy xe có nguồn gốc rõ ràng và việc trả lại xe đó phù hợp với quy định của pháp luật nên tại phiên tòa hôm nay không đưa ra xem xét lại.

Đối với Nguyễn Trần Công D tuy có đi chung với Hồ Quốc P nhưng hoàn toàn không biết P đã trộm được tài sản và không được chia tiền nên chưa đủ cơ sở truy tố đối với D.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Hồ Quốc P (M) phạm tội “Trộm cắp Tài sản”;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung 2017;

Xử phạt bị cáo Hồ Quốc P (M) 9 (chín) tháng tù. Thời hạ n tù đượ c tí nh kể từ ngà y tạ m giữ , tạm giam 17/7/2019.

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và Lệ phí, Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày được tính kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết.

Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ