- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Trung K - phạm tội giết người (điều 93 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Ngô Hoàng C. Giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM T NH Đ NG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 208/2017/HSPT Ngày: 01/8/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN T NH Đ NG THÁP
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai
Các thẩm phán:
Ông Tô Phú Đông
Ông Ngô Tấn Lợi
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Nghĩa – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
Ðại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ðồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Thành Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 197/2017/HSPT ngày 13 tháng 7 năm 2017 đối với bị cáo Ngô Hoàng C.
Do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 20/2017/HSST ngày 09 tháng 6 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện C1.
Bị cáo có kháng cáo:
NGÔ HOÀNG C
- Sinh năm: 1985;
- HKTT: Số 2, C2, Phường 10, Quận 8, Thành phố H;
- Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không;
- Trình độ học vấn: Không biết chữ;
- Nghề nghiệp: Làm thuê;
- Cha tên: Ngô Văn B, sinh năm 1961;
- Mẹ tên: Trần Thị C3, sinh năm 1963;
- Có 04 anh chị em. Bị cáo là con thứ 02 trong gia đình;
- Tiền sự: Không;
- Có 02 tiền án:
+ Ngày 25/01/2008, bị cáo Ngô Hoàng C bị Tòa án nhân dân quận B1, Thành phố H xử phạt 03 năm 6 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” tại bản án số 18/2008/HSST ngày 25/01/2008. Chấp hành xong ngày 08/4/2010;
+ Ngày 24/12/2014 bị TAND thành phố T, tỉnh T xử phạt 02 năm 6 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 20/2014/HSST ngày 24/12/2014. Chấp hành xong ngày 08/11/2016.
- Tạm giữ: Ngày 01/3/2017;
- Tạm giam: Ngày 10/3/2017;
- Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp (Có mặt).
Ngoài ra, trong vụ án còn có người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Khoảng 14 giờ, ngày 01/3/2017, C từ bến xe M thành phố H đi xe khách đến huyện C1 tìm tài sản để trộm.
Khoảng 19 giờ cùng ngày, C đến khu vực thị trấn M2, huyện C1 (Không xác định địa chỉ cụ thể) xuống xe, đi bộ thì phát hiện 01 chiếc xe đạp màu nâu trắng (Không xác định chủ sở hữu) đang dựng trước nhà dân, không khóa, không ai trông coi. C lấy xe đạp chạy trên đường Hồ Chí Minh. Khi C chạy đến ấp M1, xã M2, huyện C1 thì phát hiện xe mô tô biển số 66F1-380.xx của chị Huỳnh Thị Tuyết M3 đang dựng trước sân nhà chị Huỳnh Thị Tuyết L. Trên xe có sẵn chìa khóa, không ai trông coi. Lúc này, C để xe đạp ven đường rồi lấy xe môtô dẫn ra đường, mở khóa, nổ máy, chạy đi thì người dân là anh Huỳnh Văn H1 và chị Tuyết L phát hiện và truy hô, đuổi theo bằng xe mô tô. Nhưng anh H1 và chị L không bắt kịp.
Khi C điều khiển xe trên đường Hồ Chí Minh hướng xã M2, huyện C1 về thành phố H để tiêu thụ. Khi C chạy đến khóm 2, thị trấn M3, huyện T1 thì Đội Cảnh sát giao thông số 3 (Công an tỉnh Đồng Tháp) ra hiệu dừng xe. C xuống xe bỏ chạy và bị bắt cùng vật chứng, tài sản gồm: 01 xe mô tô biển số 66F1-380.xx, số máy 03036xx; 01 điện thoại di động Nokia số (MEI) Serial: 3518670741523xx; 115.000đ; 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Ngô Hoàng C.
Trong quá trình điều tra C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai của C phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ.
Tại kết luận định giá số 30/BB-HDĐGTTHS, ngày 03/3/2017 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện C1 xác định: 01 xe mô tô hiệu HondaWave RSX biển số 66F1-380.xx có giá trị 15.000.000 đồng và 01 chiếc xe đạp màu nâu trắng có giá trị 100.000 đồng.
Đối với xe mô tô biển số 66F1-380.xx mà C đã chiếm đoạt của chị Huỳnh Thị Tuyết M3, xe này chị M3 mượn của chị ruột Huỳnh Thị Tuyết N là chủ sở hữu. Quá trình điều tra xét thấy không cần thiết tạm giữ, đã trao trả cho chị N. Chị N và chị M3 không yêu cầu bồi thường.
Trao trả cho C 01 bóp da màu đen và 01 giấy chứng minh nhân dân tên Ngô Hoàng C. Đối với chiếc xe đạp, Cơ quan điều tra đã ra thông báo truy tìm. Nhưng chưa tìm được chủ sở hữu.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 20/2017/HSST ngày 09/6/2017 của Tòa án nhân dân huyện C1 đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Ngô Hoàng C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 138; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Ngô Hoàng C với mức án 4 (Bốn) năm 6 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/3/2017.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 09/6/2017, bị cáo Ngô Hoàng C có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp, đề nghị: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Ngô Hoàng C, giữ nguyên quyết định bản án sơ thẩm về hình phạt.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Bị cáo Ngô Hoàng C là người đã có hai tiền án về tội “Cướp giật tài sản và Trộm cắp tài sản” mức hình phạt 6 năm tù. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 08/11/2016, nhưng bị cáo không tìm nghề nghiệp để nuôi bản thân. Sau khi chấp hành xong hình phạt chưa được bao lâu thì bị cáo lại tiếp tục đi vào con đường phạm tội. Ngày 01/3/2017, bị cáo đi xe khách đến huyện C1 tìm tài sản để trộm. Bị cáo trộm chiếc xe đạp đang dựng trước nhà dân (Không biết người bị hại) và chạy xe đạp đi trộm xe mô tô hiệu HondaWave RSX của chị Huỳnh Thị Tuyết M3 đang dựng trước sân nhà. Tổng tài sản bị cáo trộm theo định giá có giá trị là 15.100.000đ.
Hành vi phạm tội của bị cáo là thuộc trường hợp nghiêm trọng, thực hiện hành vi rất táo bạo. Tài sản người bị hại để trước sân nhà bị cáo vẫn vào lấy trộm và khi bị phát hiện vẫn tiếp tục bỏ chạy. Trong khi bị cáo nhận biết được tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ. Nhưng bị cáo có sức khỏe mà không muốn lao động nên tiếp tục đi vào con đường phạm tội. Lần phạm tội này của bị cáo là thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo cần có mức hình phạt nghiêm khắc hơn, nhằm để cải tạo giáo dục bị cáo từ con đường phạm tội, để bị cáo trở thành công dân tốt, giúp ích cho gia đình và xã hội.
Án sơ thẩm xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng người, đúng tội và đã xem xét hết các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, mức hình phạt án sơ thẩm xử là không nặng. Sau khi án sơ thẩm xử bị cáo kháng cáo xin giảm hình phạt, nhưng bị cáo cũng không xuất trình được tình tiết mới nên không có căn cứ xem xét.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị giữ nguyên quyết định án sơ thẩm, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo là có căn cứ để chấp nhận.
Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự.
QUYẾT ĐỊNH:
Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Ngô Hoàng C. Giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.
Tuyên bố: Bị cáo Ngô Hoàng C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 138; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Ngô Hoàng C 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/3/2017.
Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí: Bị cáo Ngô Hoàng C phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TTM. HỘI Đ NG XÉT X PH C THẨM N i nh n:
t
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- VKSND Tỉnh;
- Ban Nội chính Tỉnh ủy;
- Sở Tư pháp Tỉnh;
- TAND huyện C1;
(Đã ký)
- Chi cục THADS huyện C1;
- Trại Tạm giam Công an Tỉnh;
- Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an Tỉnh;
- Phòng KTNV - THATA Tỉnh;
- Bị cáo;
- Lưu HS (Nghĩa).
Nguyễn Thị Mai
CÁC THẨM PHÁN
| Tô Phú Đông – S Danh Đạt Các Thẩm phán Tô Phú Đông – Nguyễn Thị Mai | THẨM PHÁN– CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mai Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thành Thơ |