- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Các Điều 8, 9, 51, 56, 58, 81, 82, 83, 107, 110, 115, 116, 117 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 115 Luật Hôn nhân và gia đình
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 208/2017/HNGĐ-ST Ngày: 24-10-2017 V/v tranh chấp “Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông NGUYỄN THANH TRIỀU.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông VÕ VĂN CƯỜNG.
2. Ông TRẦN TRUNG NHÂN.
- Thư ký phiên toà: Bà PHẠM THỊ KIM LIÊU, là thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang: Không tham gia phiên tòa.
Ngày 24 tháng 10 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 663/2017/TLST- HNGĐ ngày 06 tháng 9 năm 2017 về việc “Xin ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 201/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/10/2017 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Lê Thị Bé B, sinh năm 1989 (Có mặt).
- Địa chỉ: Tổ 3, ấp 3, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Tạm trú: Tổ 12, ấp B, xã D, huyện E, tỉnh Đồng Tháp.
* Bị đơn: Quách Tấn P, sinh năm 1982 (Có mặt).
Địa chỉ: Ấp 3, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 28 tháng 8 năm 2017 và biên bản hòa giải ngày 20 tháng 9 năm 2017 nguyên đơn Lê Thị Bé B trình bày:
- Về tình cảm: Do mai mối chị và anh P xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2015, chị và anh P có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang, ngày 24/6/2015. Trong thời gian chung sống vợ chồng sống với nhau hạnh phúc đến giữa năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do cuộc sống sinh hoạt hàng ngày bất đồng quan điểm với nhau, anh P bạc đãi không quan tâm đến vợ con. Do đó, không hợp tính tình, vợ chồng thường xuyên cãi vã làm cho mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày một trầm trọng thêm, cuộc sống không hạnh phúc, chính vì vậy chị cảm thấy không thể tiếp tục cuộc sống vợ chồng được nữa, nay chị xin ly hôn với anh Quách Tấn P. Hiện nay chị cùng con về sống chung với cha mẹ ruột của chị tại Đồng Tháp từ tháng 9/2016 cho đến nay.
- Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân anh chị có 01 con chung, tên Quách Phương Y, sinh ngày 05 tháng 7 năm 2016, cháu đang ở với chị. Khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con, chị yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con hàng tháng theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung: Không có.
- Về nợ chung: Không có.
* Tại bản tự khai và biên bản hòa giải bị đơn Quách Tấn P trình bày:
- Về tình cảm: Về tình trạng hôn nhân anh thống nhất như lời trình bày của chị Bé B nhưng anh cho rằng về tình trạng mâu thuẫn vợ chồng như lời chị Bé B trình bày là không đúng, vì giữa vợ chồng anh không có mâu thuẫn gì, mà do cha mẹ vợ anh tự ý qua rước vợ anh về Đồng Tháp sinh sống từ tháng 9/2016 cho đến nay. Nay vợ anh xin ly hôn, anh không đồng ý ly hôn do anh còn thương vợ thương con.
- Về con chung: Có 01 con chung, tên Quách Phương Y, sinh ngày 05 tháng 7 năm 2016. Trường hợp Tòa án giải quyết cho ly hôn thì anh yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, anh không yêu cầu vợ anh cấp dưỡng nuôi con, nếu Tòa án giao con cho vợ anh nuôi thì anh đồng ý cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung: Không có.
- Về nợ chung: Không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Hôn nhân của chị Lê Thị Bé B và anh Quách Tấn P được xác lập trên cơ sở do mai mối, anh chị cưới nhau vào năm 2015, anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang, ngày 24/6/2015 và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 65, cho thấy mối quan hệ hôn nhân của chị Lê Thị Bé B và anh Quách Tấn P phù hợp với các Điều 8, 9 Luật hôn nhân gia đình. Sau khi kết hôn anh chị sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, theo lời trình bày của chị nguyên nhân mâu thuẫn là do anh P đối xử tệ bạc với chị do chị sinh con gái và không quan tâm chăm sóc vợ con, chị và anh P đã ly thân từ tháng 9/2016 cho đến nay, nay chị yêu cầu được ly hôn.
Đối với anh Quách Tấn P nguyên nhân mâu thuẫn là do anh phát ngôn không đúng nên có xúc phạm đến vợ là chị B và vợ anh đã về cha mẹ ruột sống từ tháng 9/2016 cho đến nay, anh có qua động viên vợ trở về chung sống nhưng không được. Nay vợ anh xin ly hôn anh không đồng ý vì còn thương vợ và thương con.
Tại phiên tòa hôm nay anh P đưa ra yêu cầu là không đồng ý ly hôn anh yêu cầu được đoàn tụ, nhưng anh không đưa ra được biện pháp nào để hàn gắn hạnh phúc gia đình, về phía chị B Tòa án đã động viên hòa giải nhưng chị vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn cho thấy mâu thuẫn giữa chị Bé B và anh P đã thực sự trầm trọng đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử quyết định cho chị Lê Thị Bé B được ly hôn với anh Quách Tấn P.
- Về con chung: Anh chị khai thống nhất có 01 con chung cháu tên Quách Phương Y, sinh ngày 05 tháng 7 năm 2016. Hiện do chị Lê Thị Bé B trực tiếp nuôi dưỡng, khi ly hôn chị Bé B yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung và yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
Đối với anh P anh cũng có yêu cầu được nuôi con chung nhưng xét theo quy định pháp luật cháu Quách Phương Y, sinh ngày 05 tháng 7 năm 2016 hiện nay cháu chưa tròn 36 tháng tuổi nên không thể giao cháu cho anh P nuôi dưỡng, đồng thời cháu Quách Phương Y là con gái cần tình thương của mẹ nhiều hơn. Do đó Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Quách Phương Y, sinh ngày 05 tháng 7 năm 2016 cho chị Lê Thị Bé B tiếp tục nuôi dưỡng. Buộc anh Quách Tân P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Quách Phương Y, sinh ngày 05 tháng 7 năm 2016 mỗi tháng 650.000đồng cho đến khi cháu Quách Phương Y tròn 18 tuổi lao động được.
- Về tài sản chung: Chị và Anh P thừa nhận có 10 chỉ vàng 24K nhưng không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Quách Tấn P được quyền thăm nom con chung sau khi ly hôn.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Các Điều 8, 9, 51, 56, 58, 81, 82, 83, 107, 110, 115, 116, 117 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự.
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về tình cảm: Chị Lê Thị Bé B được ly hôn với anh Quách Tấn P.
- Về con chung: Có 01 con chung cháu tên Quách Phương Y, sinh ngày 05 tháng 7 năm 2016, hiện do chị Lê Thị Bé B trực tiếp nuôi dưỡng, tiếp tục giao cháu Quách Phương Y cho chị Lê Thị Bé B nuôi dưỡng. Buộc anh Quách Tấn P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Quách Phương Y, sinh ngày 05 tháng 7 năm 2016 mỗi tháng 650.000đồng cho đến khi cháu Quách Phương Y tròn 18 tuổi lao động được. Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày án có hiệu lực pháp luật.
Việc giao nhận tiền cấp dưỡng được thực hiện tại Chi cục thi hành án huyện C, tỉnh Tiền Giang.
Kể từ ngày chị Lê Thị Bé B có đơn yêu cầu thi hành án về tiền cấp dưỡng nuôi con nếu anh Quách Tấn P không thực hiện việc cấp dưỡng số tiền trên thì hàng tháng anh Quách Tấn P còn phải chịu tiền lãi theo lãi mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Anh Quách Tấn P được quyền thăm nom con chung sau khi ly hôn.
- Về tài sản chung: Tại Tòa chị B và Anh P thừa nhận có 10 chỉ vàng 24K nhưng không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị Lê Thị Bé B phải chịu 300.000đồng tiền án phí Hôn nhân sơ thẩm chị đã nộp 300.000đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 07489 ngày 06/9/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Tiền Giang, sau khi được cấn trừ xem như chị nộp xong tiền án phí.
Anh Quách Tấn P phải chịu 300.000đồng tiền án phí về cấp dưỡng nuôi con.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè; - Chi cục THADS huyện C; - UBND xã A, H. C, T. Tiền Giang; - Các đương sự; - Lưu HS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thanh Triều |