vanban.org

Bản án 2071/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 29/09/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

91, Khoản 4 Điều 147, Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 và Khoản 3 Điều 228, Khoản

1 Điều 273 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; nhân và gia đình năm 2014; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? 91, Khoản 4 Điều 147, Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 và Khoản 3 Điều 228, Khoản
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 2071/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 29 – 9 – 2023
V/v Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Chủ tọa phiên tòa – Thẩm phán: Ông Phan Trịnh Minh Đức

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Quang Việt

Ông Huỳnh Phẩm Dũng Phát

Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Viết Nhiên – Thư ký Tòa án nhân dân Thành

phố H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H tham gia phiên tòa: Ông

Hà Thanh Bình – Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố H

xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 500/2022/TLST-

HNGĐ ngày 19 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định

đưa vụ án ra xét xử số 3401/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2023

và Quyết định hoãn phiên tòa số 12348/2023/QĐHPT-HNGĐ ngày 29 tháng 8

năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lương Thị T, sinh năm 1980.

Địa chỉ: Số 335A đường ĐXH, phường PL B, thành phố TĐ, Thành phố H.

- Bị đơn: Ông Park Hyun J, sinh năm 1965.

Địa chỉ: Số 8 Jeongjeong – ri, Gwanin – myeon, Pocheon – si, Junggi – do,

Hàn Quốc.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn bà Lương Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lương Thị T và ông Park Hyun J tự nguyện kết

hôn, đăng ký kết hôn tại nước Hàn Quốc ngày 28/9/2006. Bà Lương Thị T đã lập

thủ tục ghi chú vào sổ hộ tịch về việc đăng ký kết hôn do cơ quan nước ngoài cấp

tại Ủy ban nhân dân tỉnh HD theo Giấy xác nhận số 4921/STP – XN ngày

16/11/2006 do Sở Tư pháp tỉnh HD cấp. Sau khi kết hôn, bà Lương Thị Tvà ông

Park Hyun J chung sống tại nước Hàn Quốc. Trong quá trình chung sống, vợ chồng không có việc làm ổn định, cuộc sống vợ chồng ngày càng khó khăn, ông Park Hyun J không có khả năng sinh con nên vợ chồng không hạnh phúc. Đến năm 2012, bà Lương Thị T trở về Việt Nam sinh sống và làm việc. Từ đó cho đến nay, vợ chồng không còn liên lạc qua lại với nhau. Nhận thấy, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mâu thuẫn đã trầm trọng, không thể hàn gắn cuộc sống vợ chồng, bà Lương Thị T yêu cầu ly hôn ông Park Hyun J.

Về con chung: Bà Lương Thị T trình bày không có.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lương Thị T trình bày không có.

Đối với bị đơn ông Park Hyun J:

Ông Park Hyun J hiện đang cư trú tại nước Hàn Quốc nên Tòa án nhân dân

Thành phố H đã thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp ra nước ngoài và đăng trên cổng thông tin điện tử của Đại sứ quán Việt Nam tại nước Hàn Quốc để niêm yết, tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho ông Park Hyun J biết như: Thông báo về việc thụ lý vụ án, ngày giờ mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, ngày giờ mở phiên tòa vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm. Tòa án nhân dân Thành phố H thông báo và yêu cầu ông Park Hyun J có văn bản trình bày về quan hệ hôn nhân, về con chung, về tài sản chung, về nợ chung trong quá trình chung sống giữa bà Lương Thị T và ông Park Hyun J, đồng thời trình bày ý kiến của ông Park Hyun J đối với yêu cầu khởi kiện của bà Lương Thị T. Tuy nhiên, Tòa án nhân dân Thành phố H không nhận được phản hồi của ông Park Hyun J, mặc dù các thủ tục ủy thác niêm yết, tống đạt, đăng trên cổng thông tin điện tử của Đại sứ quán Việt Nam tại nước Hàn Quốc hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án như đã nêu trên đối với ông Park Hyun J.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Nguyên đơn bà Lương Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn ông Park Hyun J đã được cơ quan có thẩm quyền niêm yết, tống đạt,

đăng trên cổng thông tin điện tử của Đại sứ quán Việt Nam tại nước Hàn Quốc hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án như: Thông báo về việc thụ lý vụ án, ngày giờ mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, ngày giờ mở phiên tòa vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng ông Park Hyun J vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố H tham gia phiên tòa phát biểu

ý kiến:

Về tố tụng: Tòa án nhân dân Thành phố H thụ lý vụ án đúng thẩm quyền.

Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Đối với các đương sự vắng mặt, Tòa án đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng.

Về nội dung: Bà Lương Thị T và ông Park Hyun J, hiện nay vợ chồng không

còn sống chung, mỗi người ở một nơi, cho thấy quan hệ vợ chồng giữa bà Lương

Thị T và ông Park Hyun J không còn tồn tại trên thực tế, mục đích hôn nhân

không đạt được, nên có cơ sở để chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lương Thị T.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà Lương Thị T trình bày không có

nên không xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Viện kiểm

sát nhân dân Thành phố H, Hội đồng xét xử nhận định:

Xét về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Căn cứ nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lương Thị T yêu cầu

ly hôn với bị đơn ông Park Hyun J, đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về “Ly

hôn theo yêu cầu của một bên” theo quy định tại Khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân

và gia đình năm 2014, thuộc trường hợp “Ly hôn” theo quy định tại Khoản 1

Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn ông Park Hyun J đang cư trú

tại nước Hàn Quốc nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa gia đình và người

chưa thành niên – Tòa án nhân dân Thành phố H theo quy định tại Điều 35, Điều

37, Điều 38, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Xét sự vắng mặt của nguyên đơn bà Lương Thị T và bị ông Park Hyun J

tại phiên tòa sơ thẩm:

Nguyên đơn bà Lương Thị T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

Đối với bị đơn ông Park Hyun J: Tòa án nhân dân Thành phố H đã thực hiện

thủ tục ủy thác tư pháp ra nước ngoài và đăng trên cổng thông tin điện tử của Đại

sứ quán Việt Nam tại nước Hàn Quốc để niêm yết, tống đạt các văn bản tố tụng

của Tòa án cho ông Park Hyun J biết như: Thông báo về việc thụ lý vụ án, ngày

giờ mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa

giải, ngày giờ mở phiên tòa vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm. Tòa án nhân dân

Thành phố H thông báo và yêu cầu ông Park Hyun J có văn bản trình bày về quan

hệ hôn nhân, về con chung, về tài sản chung, về nợ chung trong quá trình chung

sống giữa bà Lương Thị T và ông Park Hyun J, đồng thời trình bày ý kiến của

ông Park Hyun J đối với yêu cầu khởi kiện của bà Lương Thị T. Tuy nhiên, Tòa

án nhân dân Thành phố H không nhận được phản hồi của ông Park Hyun J, mặc

dù các thủ tục ủy thác niêm yết, tống đạt, đăng trên cổng thông tin điện tử của Đại

sứ quán Việt Nam tại nước Hàn Quốc hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án như

đã nêu trên đối với ông Park Hyun J. Căn cứ Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 và

Khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử

sơ thẩm vụ án.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lương Thị T đối với bị đơn ông

Park Hyun J, xét thấy:

Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lương Thị T đã cung

cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình; đối với bị đơn ông Park Hyun J đã được Tòa án tống đạt, niêm yết, đăng trên cổng thông tin điện tử của Đại sứ quán Việt Nam tại nước Hàn Quốc hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vắng mặt không có lý do nên được xem bị đơn ông Park Hyun J từ bỏ nghĩa vụ chứng minh theo qui định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử căn cứ các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn bà Lương Thị T cung cấp để xét xử vụ án.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lương Thị T và ông Park Hyun J tự nguyện kết

hôn, đăng ký kết hôn tại nước Hàn Quốc ngày 28/9/2006. Bà Lương Thị T đã lập thủ tục ghi chú vào sổ hộ tịch về việc đăng ký kết hôn do cơ quan nước ngoài cấp tại Ủy ban nhân dân tỉnh HD theo Giấy xác nhận số 4921/STP – XN ngày 16/11/2006 do Sở Tư pháp tỉnh HD cấp; Có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Lương Thị T và ông Park Hyun J là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Bà Lương Thị T yêu cầu ly hôn ông Park Hyun J với lý do sau khi kết hôn,

bà Lương Thị T và ông Park Hyun J chung sống tại nước Hàn Quốc. Trong quá trình chung sống, vợ chồng không có việc làm ổn định, cuộc sống vợ chồng ngày càng khó khăn, ông Park Hyun J không có khả năng sinh con nên vợ chồng không hạnh phúc. Đến năm 2012, bà Lương Thị T trở về Việt Nam sinh sống và làm việc. Từ đó cho đến nay, vợ chồng không còn liên lạc qua lại với nhau. Đối với ông Park Hyun J đã được Tòa án tống đạt, niêm yết, đăng trên cổng thông tin điện tử của Đại sứ quán Việt Nam tại nước Hàn Quốc hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không nhận được phản hồi của ông Park Hyun J. Xét thấy, tình nghĩa vợ chồng giữa bà Lương Thị T và ông Park Hyun J không có sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau; điều kiện sống mỗi người mỗi nơi không có sự chia sẻ, thực hiện các công việc trong một gia đình; khả năng đoàn tụ không có nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu của bà Lương Thị T ly hôn ông Park Hyun J theo quy định tại Điều 19, Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Bà Lương Thị T trình bày không có

nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Lương Thị T phải chịu án phí

hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Xét ý kiến phát biều của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố H tại

phiên tòa, như nhận định nêu trên xét thấy có cơ sở nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Khoản 3 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 37, Điều

91, Khoản 4 Điều 147, Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 và Khoản 3 Điều 228, Khoản

1 Điều 273 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 8, Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 57 và Điều 127 Luật Hôn

nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy

ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và

sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lương Thị T đối

với bị đơn ông Park Hyun J:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lương Thị T ly hôn ông Park Hyun J.

2. Về con chung: Không xem xét, giải quyết.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Lương Thị T phải chịu án phí

hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được cấn

trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp theo Biên lai

thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003188 ngày 14/10/2022 của Cục Thi hành

án dân sự Thành phố H.

5. Về quyền kháng cáo bản án:

Bà Lương Thị T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong

thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc Bản án

được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Ông Park Hyun J cư trú ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng

cáo Bản án trong thời hạn 01 (Một) tháng kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ

hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết, đăng trên cổng thông tin điện tử của Đại

sứ quán Việt Nam tại nước Hàn Quốc hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật

Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân

sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành

án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án

dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ