vanban.org

Bản án 207/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về “Ly hôn” của chị Thôi Thị Đ với anh Trần Anh T. Về hôn nhân: Cho chị Thôi Thị Đ được ly hôn với anh Trần Anh T (Giấy chứng nhận kết hôn số 04, ngày 12/01/2018, tại UBND xã X, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang). Quan hệ hôn nhân giữa chị Đ và anh T chấm dứt kể từ ngày… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Thôi Thị Đ - Trần Anh T"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình xử; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử; Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình xử
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN SƠN
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 207/2024 /HNGĐ-ST.
Ngày 15/8/2024
“V/v Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Mạnh Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đặng Thị Huệ và bà Lộc Thị Kim Thơm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Yến – Thư ký viên, Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Lương Nguyễn Thảo P- Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự ly hôn thụ lý số: 123/2024/TLST- HNGĐ, ngày 15/5/2024, về việc “Ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2024/QĐXXST-HS ngày 16/7/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 45/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 31/7/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Thôi Thị Đ, sinh năm 1990

Địa chỉ: Thôn Đ, xã X, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Trần Anh T, sinh năm 1991

Địa chỉ: Thôn Đ, xã X, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt đã được triệu tập họp lệ lần thứ 2.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn chị Thôi Thị Đ trình bày:

Chị và anh Trần Anh T qua thời gian tự nguyện tìm hiểu đã kết hôn với nhau vào năm 2018, được gia đình tổ chức cưới theo phong tục tập quán của địa phương và có đăng ký kết hôn tại UBND xã X, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang vào ngày 12/01/2018. Sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống cùng bố mẹ anh T tại thôn Đ, xã X, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Quá trình chung sống, ngay sau khi kết hôn được khoảng 01 năm đã bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn cãi, chửi nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính cách không hợp nhau luôn bất đồng quan điểm trong cuộc sống và làm ăn kinh tế; có lối sống, suy nghĩ không hợp nhau, không tìm được tiếng nói chung; thiếu sự quan tâm, chia sẻ, chăm sóc lẫn nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt. Anh T thường xuyên đi làm ăn xa không quan tâm đến chị. Hiện nay hai vợ chồng chị đã sống ly thân, không còn quan hệ gì về tình cảm cũng như kinh tế.

Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị Đ vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày, chị xác định mâu thuẫn giữa chị và anh T đã trầm trọng, kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Chị Đ xác định chị và anh T không có con chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Đ xác định chị và anh Trần Anh T không có tài sản chung và nợ chung nên không đề nghị Toà án giải quyết.

Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo, triệu tập anh Trần Anh T đến để giải quyết vụ án nhưng anh T đều không có mặt. Qua xác minh tại địa phương thì hiện nay anh T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn Đ, xã X, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Theo cung cấp của đại diện thôn Đ, xã X, huyện Y, anh Trần Anh T và chị Thôi Thị Đ kết hôn với nhau như chị Đ đã trình bày là đúng thực tế. Sau khi kết hôn chị Đ và anh T về chung sống cùng bố mẹ anh T tại thôn Đ, xã X, Quá trình chung sống hai vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, anh T đi làm ăn xa thỉnh thoảng mới về nhà, thực tế hai vợ chồng đã sống ly thân từ khoảng năm 2020 cho đến nay. Hiện nay anh Trần Anh T đi làm ăn xa, thỉnh thoảng có về địa phương và liên lạc với gia đình, nhưng không thông báo địa chỉ nơi ở và nơi làm việc mới cho chính quyền địa phương và gia đình biết. Đại diện thôn và gia đình xác định có nhận được Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác của Tòa án và đã thông báo cho anh Trần Anh T biết việc Tòa án đang giải quyết vụ án ly hôn giữa chị Đ và anh T nhưng anh T không về Tòa án để giải quyết vụ án.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: Thẩm phán thực hiện đúng quy định của Điều 28, 48 của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS), xác định đúng quan hệ tranh chấp, tư cách của người tham gia tố tụng, tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự, gửi văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát đúng thời hạn quy định; nguyên đơn chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 của BLTTDS; bị đơn chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 BLTTDS như: Không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án; vắng mặt tại phiên họp, phiên tòa; tại phiên tòa HĐXX, Thư ký thực hiện đúng trình tự, thủ tục được quy định tại chương XIV của BLTTDS.

- Về hướng giải quyết vụ án:

+ Về hôn nhân: Căn cứ các Điều 51, 56, 57 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Thôi Thị Đ xử cho chị Thôi Thị Đ được ly hôn với anh Trần Anh T.

+ Về con chung: Chị Đ và anh T không có con chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Chị Thôi Thi Đ1 xác định không có, không đề nghị Tòa án giải quyết nên không xem xét.

+ Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc chị Thôi Thị Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định.

+ Đề nghị tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; tiến hành xác minh tại thôn Đ, xã X, huyện Y.

Chị Thôi Thị Đ có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải vụ án vì lý do anh T nhiều lần không đến Tòa án giải quyết, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án nên Tòa án chỉ tiến hành Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ mà không tiến hành hòa giải.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Chị Thôi Thị Đ và anh Trần Anh T kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND xã X, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang là hôn nhân hợp pháp; chị Đ khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn nên xác định đây là vụ án “Ly hôn”; bị đơn anh Trần Anh T có đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại xã X, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn đã tiến hành xác minh thu thập chứng cứ, tống đạt văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, tuy nhiên bị đơn anh Trần Anh T vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa; chị Đ có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn quyết định xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại các Điều 227, 228 và 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc xem xét yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.

Về hôn nhân:

Căn cứ lời khai của đương sự; kết quả xác minh, thu thập chứng cứ có cơ sở xác định: Chị Thôi Thị Đ và anh Trần Anh T kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND xã X, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang là hôn nhân hợp pháp, đúng thực tế. Quá trình chung sống giữa hai vợ chồng có xảy ra nhiều mâu thuẫn, thực tế hai vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay, giữa hai vợ chồng không còn quan hệ gì về tình cảm cũng như kinh tế, chị Đ đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Anh T theo quy định của pháp luật.

HĐXX xét thấy, việc mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Đ và anh T là đúng thực tế, hai vợ chồng đã sống ly thân từ lâu, trong suốt quá trình sống ly thân hai vợ chồng không gặp nhau, không liên lạc với nhau và cũng không có cách thức biện pháp gì khắc phục mâu thuẫn vợ chồng, chị Đ xác định không còn tình nghĩa vợ chồng với anh T; cả hai bên đã không còn giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt mà người nào chỉ biết bổn phận của người đó, bỏ mặc nhau sống ra sao thì sống, trên thực tế cuộc sống hôn nhân không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được, đến nay mâu thuẫn đã trầm trọng, kéo dài, nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Thôi Thị Đ. Căn cứ các Điều 51, 56, 57 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Thôi Thị Đ được ly hôn với anh Trần Anh T

Về con chung; tài sản chung; nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án chị Đ xác định, chị và anh T không có con chung, không có tài sản chung và nợ chung, không đề nghị Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Thôi Thị Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định, anh Trần Anh T không phải chịu án phí; các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, các Điều 35, 39, 143, 144, 147, 227, 228, 235, 238, 266, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Các Điều 51, 56, 57 của Luật Hôn nhân và gia đình;

- Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về “Ly hôn” của chị Thôi Thị Đ với anh Trần Anh T.

1. Về hôn nhân: Cho chị Thôi Thị Đ được ly hôn với anh Trần Anh T (Giấy chứng nhận kết hôn số 04, ngày 12/01/2018, tại UBND xã X, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang). Quan hệ hôn nhân giữa chị Đ và anh T chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2. Về án phí: Chị Thôi Thị Đ phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0002003 ngày 15/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang, chị Thôi Thị Đ đã nộp đủ tiền án phí. Anh Trần Anh T không phải chịu án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định.

Cỡ chữ