vanban.org

Bản án 207/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 26/08/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn Đ đã phạm tội “trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Vũ Văn Đ 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Vũ Văn Đ cho Ủy ban nhân dân xã T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Văn Đ phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn Đ đã phạm tội “trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ H
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 207/2021/HS-ST
Ngày: 26 - 8 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H, TỈNH QUẢNG NINH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Mai Lan

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Hương Linh

Ông Trần Xuân Giới

-Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Lan Hương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2021 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 195/2021/TLST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2021 theo Quyết Đ đưa vụ án ra xét xử số 207/2021/QĐXXST- HS ngày 13 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo:

Vũ Văn Đ ; sinh ngày 28 - 6 - 1987, tại tỉnh Quảng Ninh Nơi cư trú: Thôn L, xã T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn B và bà Bùi Thị H; vợ là Nguyễn Thị T, có 01 con sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: ngày 26/11/2008 bị Tòa án nhân dân thành phố H xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong các quyết Đ của bản án.

Bị cáo tự thú và bị tạm giữ từ ngày 24/5/2021 đến ngày 02/6/2021 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Đỗ Lý Đ - sinh năm 1993. Địa chỉ: Thôn A, xã S, huyện V, tỉnh Thái Bình; có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ Văn Đ là nhân viên của trạm điều hành thu phí BOT B (đã chấp dứt hợp đồng lao động theo quyết Đ số 99/2021/QĐ-BOTBC ngày 26/5/2021 của Công ty cổ phần BOT B) ở thôn Đ, xã V, thành phố H. Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 23/5/2021, Đ xuống chỗ để xe của trạm để lấy xe về nhà, tại đây Đ nhìn thấy 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu “Honda Wave”, biển kiểm soát 28H1-300.36 của anh Đỗ Lý Đ (cùng là nhân viên của trạm), nên Đ nảy sinh ý Đ trộm cắp để bán lấy tiền ăn tiêu. Đ liền dắt chiếc xe mô tô trên ra khỏi khu vực nhà điều hành của trạm, đi về hướng Quốc lộ 279 được khoảng 100 mét thì Đ nhặt 01 thanh kim loại dài khoảng 30cm, bản dẹt ở ven đường để cạy cốp xe, lấy được 01 chiếc tua vít rồi tháo toàn bộ lớp vỏ nhựa của chiếc xe mô tô để tìm cách đấu điện nổ máy xe, nhưng không nổ được. Đ vứt số vỏ nhựa này vào bụi cây gần đó cùng 01 mũ bảo hiểm, 01 áo mưa chùm màu đen và 01 đôi găng tay vải của anh Đ để trong cốp xe rồi tiếp tục dắt bộ xe đi về hướng xã T, thành phố H theo Quốc Lộ 279. Đ đi đến đoạn đường thuộc thôn Đ, xã V, thành phố H, do xe vẫn không nổ máy được nên Đ đã cất giấu xe đồng thời đi bộ quay trở lại nhà điều hành của trạm nghỉ. Đến khoảng 04 giờ ngày 24/5/2021, Đ đang trên đường về trạm thì bị Tổ công tác Công an xã V kiểm tra hành chính, Đ đã tự thú về hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô nêu trên. Công an đã tiến hành thu giữ toàn bộ số tài sản của anh Đ do Đ trộm cắp.

Tại bản kết luận Đ giá tài sản số 104/KLĐGTS ngày 31/5/2021 của Hội đồng Đ giá tài sản thành phố H kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu “Honda Wave”, biển kiểm soát 28H1-300.36 trị giá 11.682.000 đồng; 01 áo mưa màu xanh, kích thước (162x123)cm đã qua sử dụng trị giá 104.400 đồng; 01 chiếc mũ bảo hiểm màu xanh, trên mũ có dán nhãn hiệu Vespa SERVIZIO trị giá 200.100 đồng; 01 tua vít có chuôi màu đen dài 10cm trị giá 7.500 đồng; 02 chiếc găng tay bằng vải màu đen xám có kích thước (20x9)cm trị giá 26.100 đồng. Tổng trị giá các tài sản trên là 12.020.100 đồng (Mười hai triệu, không trăm hai mươi nghìn, một trăm đồng).

Quá trình điều tra, Vũ Văn Đ khai nhận sự việc như đã nêu trên.

Bị hại anh Đỗ Lý Đ có đơn trình báo và lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai tại phiên tòa thể hiện: khoảng 12 giờ 30 phút ngày 23/5/2021 anh để 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu “Honda Wave”, biển kiểm soát 28H1-300.36 là tài sản anh mua tháng 3/2017 tại nhà xe của Công ty cổ phần BOT B để đi làm. Đến 05 giờ 30 phút ngày 24/5/2021 anh phát hiện xe bị mất nên đã trình báo sự việc đến Công an xe V.

Tại bản cáo trạng số 196/CT-VKSHL ngày 27/7/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H đã truy tố Vũ Văn Đ về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự;

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H có quan điểm giữ nguyên quyết Đ truy tố đối với Vũ Văn Đ như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 điều 173; điểm b,s,r khoản 1; khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Văn Đ từ 09 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã Thống Nhất và gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

NHẬN Đ CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố đối với bị cáo, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện theo đúng trình tự quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Bị cáo Vũ Văn Đ khai tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa cơ bản phù hợp với nhau và phù hợp với nội dung vụ án về thời gian, địa điểm và sự việc bị cáo đã trộm cắp chiếc xe mô tô “Honda Wave”, biển kiểm soát 28H1-300.36 của anh Đỗ Lý Đ với mục đích bán lấy tiền ăn tiêu. Tuy nhiên vì không nổ máy được nên bị cáo đã cất giấu xe và đi bộ về chỗ để xe của trạm điều hành thu phí BOT B để lấy xe của bị cáo thì bị Công an xã V kiểm tra, bị cáo đã tự nguyện khai báo hành vi trộm cắp xe mô tô vừa thực hiện để cơ quan điều tra thu giữ lại chiếc xe mô tô và các đồ dùng của anh Đ. Bị cáo đã nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình nên khai báo thành khẩn với cơ quan điều tra và đã bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của anh Đ.

Bị hại anh Đỗ Lý Đ khai tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo về thời gian, địa điểm và sự việc anh bị mất chiếc xe mô tô “Honda Wave”, biển kiểm soát 28H1-300.36, sau khi cơ quan điều tra phát hiện thu giữ lại chiếc xe và các đồ dùng để trong cốp xe gồm tua vít, áo mưa, mũ bảo hiểm đã được trả lại cho anh đầy đủ, bị cáo Vũ Văn Đ đã bồi thường tiền sửa chữa xe do bị hỏng vì Đ đã cậy lớp vỏ nhựa xe. Do vậy anh Đ không có yêu cầu gì khác đối với bị cáo về việc bồi thường thiệt hại, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Lời khai của bị cáo và bị hại còn phù hợp đơn xin tự thú ngày 24/5/2021 của Vũ Văn Đ, phù hợp biên bản kiểm tra, biên bản sự việc do Công an xã V lập ngày 24/5/2021, phù hợp với lời khai của người chứng kiến Lê Văn L, phù hợp với biên bản xác Đ hiện trường, sơ đồ, bản ảnh hiện trường, và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Căn cứ vào các tài liệu điều tra và lời khai của bị cáo đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy đã có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 23/5/2021, tại nhà điều hành trạm thu phí BOT B ở thôn Đồng Mơ, xã V, thành phố H. Vũ Văn Đ đã có hành vi trộm cắp của anh Đỗ Lý Đ các tài sản gồm: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu “Honda Wave”, biển kiểm soát 28H1-300.36 ; 01 áo mưa màu xanh; 01 chiếc mũ bảo hiểm màu xanh; 01 tua vít có chuôi màu đen, 01 đôi găng tay, tổng trị giá là 12.020.100 đồng (Mười hai triệu, không trăm hai mươi nghìn, một trăm đồng).

Hành vi nêu trên của bị cáo Vũ Văn Đ đã phạm tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố H đã truy tố bị cáo theo bản cáo trạng là đúng quy định của pháp luật.

Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đ nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm

…”

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, song do thiếu tu dưỡng, lười lao động mà lại muốn có tiền để ăn tiêu, nên đã cố ý thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác. Vì vậy cần thiết phải xử lý nghiêm đối với bị cáo để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng; sau khi phạm tội đã tự thú với cơ quan điều tra, tự nguyện khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, bồi thường thiệt hại ngay cho bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy Đ tại điểm s,r,b khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.

Sau khi xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: bị cáo có 1 lần bị Tòa án kết án từ năm 2008 nhưng đã được xóa án tích, hiện tại có nơi cư trú rõ ràng và được chính quyền địa phương xác nhận chấp hành tốt các quy Đ của pháp luật; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy Đ tại điều 51 Bộ luật hình sự, trong đó có 3 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 và 01 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại khoản 1,2,5 điều 65 Bộ luật hình sự, để bị cáo có cơ hội sửa chữa vi phạm mà cải tạo thành người có ích cho gia đình và xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn Đ nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng và trách nhiệm dân sự: bị hại đã được cơ quan điều tra trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu “Honda Wave”, biển kiểm soát 28H1-300.36; 01 áo mưa màu xanh; 01 chiếc mũ bảo hiểm màu xanh; 01 tua vít có chuôi màu đen 01 đôi găng tay và không có yêu cầu gì khác nên không xem xét giải quyết.

[7] Bị cáo phải chịu án phí theo quy Đ tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội quy Đ về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT Đ:

Căn cứ khoản 1 điều 173; điểm b, s, r khoản 1, khoản 2 điều 51; khoản 1,2,5 điều 65 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn Đ đã phạm tội “trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Vũ Văn Đ 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Vũ Văn Đ cho Ủy ban nhân dân xã T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T để giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy Đ của pháp luật về Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Căn cứ điểm d khoản 1 điều 125 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 184/2021/HSST-LCĐKNCT ngày 30/7/2021 của Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Ninh đối với bị cáo Vũ Văn Đ.

Căn cứ điều 331; điều 333; khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

- VKSND TP. H;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND tỉnh Quảng Ninh

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh;

- Bị cáo; bị hại

- Chi cục THA dân sự TP H;

- Thi hành án hình sự

- Lưu VP, hồ sơ vụ án;

Đặng Mai Lan Nơi nhận:

- VKSND TP. H;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND tỉnh Quảng Ninh

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh;

- Bị cáo; bị hại; người có QLNVLQ

- Chi cục THA dân sự TP H;

- Công an TP H, trại tạm giam,

- Thi hành án hình sự

- Lưu VP, hồ sơ vụ án;

Đặng Mai Lan -

Cỡ chữ