vanban.org

Bản án 207/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 09/07/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm Tội trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đức 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án, được khấu trừ thời gian bắt tạm giữ từ ngày 06/12/2018 đến ngày 11/12/2018. Án phí sơ thẩm: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Đức phạm tội trộm cắp tài sản; - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm Tội trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bản án số: 207/2019/HS-ST
Ngày: 09- 7- 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Quân.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Hoàn;

2. Bà Nguyễn Thị Kim Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tố Anh, là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải- Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 177/2019/TLST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 211/2019/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2019, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1982 tại tỉnh Bắc Ninh; thường trú: Ấp 7, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1961 và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1961; có 03 em ruột, lớn sinh năm 1985, nhỏ sinh năm 1991; vợ tên Nguyễn Thị L, sinh năm 1980 và 01 con sinh năm 2003; tiền án: Ngày 31/10/2012 Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai tuyên phạt 07 năm tù về Tội cố ý gây thương tích, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 08/5/2017; tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 06/12/2018 đến ngày 11/12/2018 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Giám hộ cho bị cáo Nguyễn Văn Đ: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1961 và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1961; địa chỉ: Ấp 7, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt.

- Bị hại:

1. Bùi Tất T, sinh năm 1989; địa chỉ: Xóm N, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt.

2. Đinh Thị Ơ N, sinh năm 2000; địa chỉ: Thôn L, xã S, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.

3. Phạm Minh H, sinh năm 1973; địa chỉ: khu phố 1A, phường A, thị xã T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

4. Nguyễn Thị H, sinh năm 1978; địa chỉ: Thôn D, xã M, huyện P, tỉnh Hưng Yên; vắng mặt.

- Người phiên dịch: Bà Nguyễn Thị Kiều Phương L – Giáo viên dạy trẻ khiếm thính của Trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật T; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn Đức: Ông Đỗ Hồ Tứ - Luật sư Văn phòng luật sư Dân Luật Việt; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn Đ bị câm, điếc bẩm sinh, sống tại phòng trọ đường D1, khu dân cư Đông An, khu phố Đông An, phường Tân Đông Hiệp, thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Vào sáng ngày 06/12/2018 Nguyễn Văn Đ đi bộ từ phòng trọ đến bệnh viện Quân y – Quân đoàn 4 thuộc khu phố Thống Nhất 2, phường Dĩ An, thị xã Dĩ An để tìm tài sản trộm cắp. Đ đi đến phòng số 3 khu B2 khoa chấn thương lầu 1 và nhìn thấy anh Bùi Tất T đang nằm ngủ, trên đầu có để điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 6s plus 16GB màu trắng hồng, gắn sim 0962115007 nên Đ dùng tay cầm điện thoại này và đi ra khỏi phòng. Đ đi đến phòng số 03 khoa truyền nhiễm phát hiện chị Đinh Thị Ơ N đang ngủ, trên đầu có để điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A83 màu trắng vàng, sim số 0386724749 cắm sạc pin, Đ đến rút dây sạc và cầm điện thoại rồi đi ra khỏi phòng. Tiếp đó, Đ đi đến phòng số 05 khoa truyền nhiễm phát hiện anh Phạm Minh H đang nằm ngủ, trên đầu có để điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 6 32GB màu vàng trắng, Đ lấy chiếc điện thoại. Đ đi đến phòng số 12 khoa truyền nhiễm, phát hiện chị Nguyễn Thị H nằm ngủ, trên đầu có để một điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A5 màu hồng đen, sim số 0981063052, Đ lấy chiếc điện thoại này và lấy một bộ quân phục bộ đội cấp hàm đại úy và đi về phòng trọ. Đến 05 giờ sáng cùng ngày, anh T tỉnh dậy và phát hiện bị mất điện thoại di động nên mượn điện thoại của người khác rồi định vị phát hiện điện thoại của mình đang ở phòng trọ đường D1, khu dân cư Đông An, khu phố Đông An, phường Tân Đông Hiệp, thị xã Dĩ An, anh Thành báo Công an phường Tân Đông Hiệp. Qua kiểm tra phòng trọ Công an phường phát hiện thu giữ được 04 chiếc điện thoại nói trên cùng bộ quân phục mang cấp hàm đại úy và đưa Đ về Công an phường Tân Đông Hiệp.

Theo kết luận định giá tài sản số 348/BB.ĐG ngày 18/12/2018 của Hội đồng định giá thị xã Dĩ An kết luận như sau:

Điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 6s plus 16GB màu trắng hồng có giá trị 5.800.000 đồng.

Điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A83 màu trắng vàng trị giá 1.800.000 đồng.

Điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 6 32GB màu vàng trắng trị giá 2.800.000 đồng.

Điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A5 màu hồng đen trị giá 1.800.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản Nguyễn Văn Đ chiếm đoạt là 12.200.000 đồng.

Kết luận pháp y tâm thần số 42/KL-VPYTW của viện pháp y tâm thần trung ương Biên Hòa ngày 17/01/2019 kết luận:

- Về y học: Trước, trong, sau khi gây án và hiện nay đương sự bị bệnh chậm phát triển tâm thần khác (F78-ICD.10).

- Về năng lực nhận thức và điều khiển hành vi: Tại thời điểm gây án và hiện nay đương sự bị hạn chế năng lực nhận thức và điều khiển hành vi.

Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 6s plus 16GB màu trắng hồng, gắn sim 0962115007; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A83 màu trắng vàng, sim số 0386724749; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 6- 32GB màu vàng trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A5 màu hồng đen, sim số 0981063052.

Đối với bộ quân phục mang cấp hàm đại úy, cơ quan Cảnh sát điều tra công an thị xã chưa xác định được chủ sở hữu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thị xã Dĩ An tiếp tục xác minh khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Tại cáo trạng số: 195/CT-VKS-DA ngày 03 tháng 6 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về Tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã D giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ mức án từ 10 tháng đến 12 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Những người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên trách nhiệm dân sự không đặt ra.

Tại phiên tòa, thông qua người phiên dịch bị cáo Nguyễn Văn Đ thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trong bản cáo trạng đã nêu và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Vào sáng, ngày 06/12/2018 tại bệnh viện Quân y – Quân đoàn 4 thuộc khu phố Thống Nhất 2, phường Dĩ An, thị xã Dĩ An, bị cáo Nguyễn Văn Đ có hành vi lén lút chiếm đoạt điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 6s plus 16GB màu trắng hồng, gắn sim 0962115007 có giá trị 5.800.000 đồng của anh Bùi Tất T; điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A83 màu trắng vàng, sim số 0386724749 trị giá 1.800.000 đồng của chị Đinh Thị Ơ N; điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 6 32GB màu vàng trắng trị giá 2.800.000 đồng của anh Phạm Minh H; điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A5 màu hồng đen, sim số 0981063052 trị giá 1.800.000 đồng của chị Nguyễn Thị H. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 12.200.000 đồng, tài sản bị chiếm đoạt đã thu hồi trả lại cho những người bị hại.

Tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:

“ 1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm: …”.

Tài sản bị cáo chiếm đoạt có tổng trị giá 12.200.000 đồng đã đủ yếu tố cấu thành Tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó Cáo trạng số 195/CT-VKS-DA ngày 03 tháng 6 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện tuy là ít nghiêm trọng nhưng đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội nhiều lần và trong trường hợp chưa được xóa án tích.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo bị câm điếc bẩm sinh, thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản và có thái độ ăn năn hối cải; tài sản bị cáo chiếm đoạt trị giá không lớn, đã thu hồi trả lại cho bị hại, bị cáo đầu thú là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo không nghề nghiệp, có nhân thân xấu, Ngày 31/10/2012 Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai tuyên phạt 07 năm tù về Tội cố ý gây thương tích, sau khi chấp hành án xong bị cáo không sửa chữa làm người tốt mà còn bị xử phạt vi phạm hành chính và phạm tội mới.

Về trách nhiệm dân sự: Đối với tài sản bị chiếm đoạt 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 6s plus 16GB màu trắng hồng, gắn sim 0962115007; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A83 màu trắng vàng, sim số 0386724749; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 6 32GB màu vàng trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A5 màu hồng đen, sim số 0981063052 đã thu hồi trả lại cho những người bị hại. Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên trách nhiệm dân sự không đặt ra.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm Tội trộm cắp tài sản.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đức 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án, được khấu trừ thời gian bắt tạm giữ từ ngày 06/12/2018 đến ngày 11/12/2018.

2. Án phí sơ thẩm:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Bị cáo, luật sư có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người giám hộ cho bị cáo vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ