- Tranh chấp gì? án hành chính — "NKK: Bà Lê Thị M - NBK: UBND thành phố S"
- Tòa quyết gì? Bản án hành chính phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 17 tháng 10 năm 2025).
- Căn cứ chính? Điều 241 Luật Tố tụng hành chính; Điều 349 Luật Tố tụng hành chính
| TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 206/2025/HC-PT Ngày 17 tháng 10 năm 2025 V/v khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Xuân Điền
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Tất Nam
Ông Nguyễn Hải Thanh
Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Chuyền, Thư ký viên.
Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Khúc Thị Hoàng Hạnh, Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 10 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội và điểm cầu thành phần Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội mở phiên tòa bằng hình thức trực tuyến xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính đã được Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội (cũ) thụ lý số 381/2025/TLPT-HC ngày 09 tháng 6 năm 2025 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”, do Bản án hành chính sơ thẩm số 07/2025/HC-ST ngày 14 tháng 01 năm 2025 của Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hóa bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 4119/2025/QĐ-PT ngày 03 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Người khởi kiện: Bà Lê Thị M, Sinh năm 1975; địa chỉ: tổ dân phố A,
phường Q, thành phố S (nay là phường S), tỉnh Thanh Hóa.
2. Người bị kiện: Ủy ban nhân dân thành phố S, tỉnh Thanh Hóa
Nay kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng là: Ủy ban nhân dân phường S, tỉnh Thanh Hóa.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Tiến D, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường S, tỉnh Thanh Hóa.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Duy H, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường S, tỉnh Thanh Hóa.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ủy ban nhân dân tỉnh T
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Mai Xuân L, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh T.
3.2. Chi cục Thuế khu vực thành phố S - Q
Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Bá H1, Chi cục Trưởng.
3.3. Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa
Nay kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng là: Ủy ban nhân dân phường S, tỉnh Thanh Hóa.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Tiến D, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường S, tỉnh Thanh Hóa.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Duy H, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường S, tỉnh Thanh Hóa.
3.4. Ông Bùi Công T, sinh năm 1971; địa chỉ: tổ dân phố A, phường Q, T (nay là phường S), tỉnh Thanh Hóa.
4. Người kháng cáo: Bà Lê Thị M (là người khởi kiện).
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bà Lê Thị M có mặt; các đương sự khác vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại Tòa án, người khởi kiện là bà Lê Thị M trình bày:
Gia đình bà Lê Thị M có quyền sử dụng 151,2 m² đất thuộc thửa đất số 737, tờ bản đồ số 19 tại phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa. Ngày 04/6/2018, gia đình bà M bị thu hồi toàn bộ thửa đất theo Quyết định số 2173/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố S. Cùng ngày, UBND thành phố S ban hành Quyết định số 2184/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB cho 37 hộ gia đình, cá nhân, trong đó có gia đình bà M được bồi thường, hỗ trợ về đất tổng giá trị 1.756.881.000 đồng.
Bà M cho rằng: Theo quy định của Luật Đất đai 2013, việc bồi thường bằng đất, giao đất tái định cư phải “kịp thời”, “trong cùng một ngày” và “tại thời điểm quyết định thu hồi”. Tuy nhiên, gia đình bà M thuộc diện được bồi thường bằng đất ở, nhà ở tái định cư do bị thu hồi toàn bộ diện tích đất ở song tại thời điểm ban hành quyết định thu hồi đất, gia đình bà M không nhận được văn bản nào liên quan đến việc bồi thường bằng đất ở cho gia đình.
Về phương án bố trí tái định cư: Đến ngày 08/11/2019, UBND thành phố S ban hành Quyết định số 5287/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bố trí tái định cư cho các hộ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi để thực hiện dự án, trong đó có gia đình bà M.
Ngày 11/9/2020, Hội đồng Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thành phố S họp về việc thống nhất bố trí đất tái định cư cho gia đình bà M, cụ thể là lô TĐC 08:09, diện tích 144,64 m² tại mặt bằng tái định cư Đ, giá tính tiền sử dụng đất là 4.000.000 đồng/m².
Về việc giao đất tái định cư: Trong khi nhiều hộ gia đình, cá nhân đã được giao đất từ thời điểm năm 2019, 2020 thì mãi đến ngày 06/7/2022 UBND thành phố S mới ban hành Quyết định số 3828/QĐ-UBND về việc giao đất tái định cư cho gia đình bà M, theo đó gia đình bà M được giao 01 lô đất tái định cư là lô TĐC 08:09, diện tích 144,64 m² thuộc mặt bằng tái định cư Đ.
Về giá đất tính tiền sử dụng đất tái định cư: Ngày 18/02/2022, UBND thành phố S ban hành Quyết định số 755/QĐ-UBND về việc phê duyệt giá đất cụ thể (giá đất ở) để thu tiền sử dụng đất ở tái định cư tại mặt bằng quy hoạch Khu tái định cư Đ xác định giá các lô đất có vị trí 1 bám đường T là 7.500.000 đồng/m².
Căn cứ Quyết định giao đất số 3828/QĐ-UBND, Chi cục Thuế khu vực thành phố S - Q ban hành Thông báo nộp tiền sử dụng đất số 1773/TB-CCT ngày 06/7/2022 đối với gia đình bà M. Gia đình bà M đã nộp đủ số tiền sử dụng đất vào ngân sách Nhà nước. Cũng từ Thông báo này, gia đình bà M mới biết giá đất ở tái định cư phải nộp đối với lô TĐC 08:09 được tính theo giá đất năm 2022 là 7.500.000 đồng/m² chứ không phải là 4.000.000 đồng/m² như theo Biên bản họp Hội đồng Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ngày 11/9/2020 (theo giá đất năm 2019).
Bà M không đồng tình với việc UBND thành phố S căn cứ vào giá đất cụ thể năm 2022 để tính tiền sử dụng đất cho gia đình bà. Bà M đề nghị tính tiền sử dụng đất tái định cư cho gia đình bà theo đúng Biên bản họp Hội đồng Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thành phố S ngày 11/9/2020. Mặt khác, giá đất cụ thể để tính tiền sử dụng đất tái định cư tại Quyết định số 755/QĐ-UBND ngày 18/02/2022 cũng được xác định trái quy định. Cụ thể, căn cứ quy định của Luật Đất đai 2013 (điểm b khoản 4 Điều 114), quy định của Nghị định số 44/2014/NĐ-CP (khoản 5 Điều 4; khoản 1, khoản 2 Điều 18) và quy định của Thông tư số 36/2014/TT-BTNMT (khoản 4 Điều 7) thì giá đất cụ thể để tính tiền sử dụng đất trong trường hợp Nhà nước giao đất tái định cư phải được thực hiện theo phương pháp hệ số điều chỉnh giá đất, tức là được xác định theo công thức: Hệ số điều chỉnh giá đất X giá đất trong bảng giá đất theo Quyết định số 44/2019/QĐ-UBND. Theo công thức này, giá đất cụ thể tính tiền sử dụng đất đối với lô đất TĐC 08:09 phải là 4.000.000 đồng/m². Nói cách khác, Quyết định số 755/QĐ-UBND ngày 18/02/2022 của U vi phạm quy định pháp luật do xác định sai giá đất cụ thể.
Tóm lại, liên quan đến việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi thu hồi đất của gia đình bà M, UBND thành phố S đã liên tục vi phạm quy định của pháp luật, cụ thể là:
- Chậm bồi thường bằng đất, chậm giao đất tái định cư cho gia đình bà;
- Tính tiền sử dụng đất cho gia đình bà theo giá đất cụ thể năm 2022;
- Xác định giá đất cụ thể tính tiền sử dụng đất tái định cư năm 2022 trái quy định.
Từ đó, bà M khởi kiện yêu cầu Toà án xem xét, giải quyết:
(1) Hủy bỏ một phần Quyết định số 755/QĐ-UBND ngày 18/02/2022 của UBND thành phố S về việc phê duyệt giá đất cụ thể (giá đất ở) để thu tiền sử dụng đất ở tái định cư tại mặt bằng quy hoạch Khu tái định cư Đ. Nội dung hủy bỏ tại khoản 3 Điều 1 Quyết định này “Giá các lô đất có vị trí 1 bám đường T là 7.500.000 đồng/m²” và hủy bỏ dòng thông tin về lô TĐC 08:09 tại Bảng chi tiết số lô, diện tích, giá đất tái định cư MBQH Khu tái định cư khu phố Đ, phường Q (kèm theo Quyết định số 755/QĐ-UBND) phần có liên quan đến giá đất cụ thể tính tiền sử dụng đất lô TĐC 08:09.
(2) Hủy bỏ một phần Quyết định số 3828/QĐ-UBND ngày 06/7/2022 của UBND thành phố S về việc giao đất ở tái định cư cho ông Bùi Công T và bà Lê Thị M có đất ở thu hồi tại phường Q, để thực hiện Dự án Đầu tư xây dựng công trình đường giao thông nối thành phố S - Khu K (giai đoạn 1), nội dung huỷ bỏ là phần căn cứ “Quyết định số 755/QĐ-UBND ngày 18/02/2022 phê duyệt giá đất cụ thể (giá đất ở) để thu tiền sử dụng đất ở tái định cư tại mặt bằng quy hoạch Khu T, phường Q, thành phố S” và đề nghị UBND thành phố S thay nội dung này bằng “Quyết định số 6420/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 phê duyệt giá đất cụ thể (giá đất ở) để thu tiền sử dụng đất ở tái định cư tại mặt bằng quy hoạch Khu T, phường Q, thành phố S”.
(3) Buộc người bị kiện là UBND thành phố S phải ra quyết định về việc hoàn trả và người có nghĩa vụ liên quan là Chi cục Thuế khu vực S - Q phải thực hiện hoàn trả cho gia đình bà M khoản tiền sử dụng đất chênh lệch đã thu thừa giữa giá đất cụ thể năm 2022 và giá đất cụ thể năm 2019, cụ thể là: 144,64 x (7.500.000-4.000.000) = 506.240.000 đồng.
(4) Buộc người bị kiện thanh toán các khoản thiệt hại cho người khởi kiện (theo Điều 23 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017), cụ thể: (1) Số tiền yêu cầu hoàn trả đã xác định tại yêu cầu 3, số tiền là 506.240.000 đồng; (2) khoản lãi đối với số tiền chênh lệch tạm tính đến 22/08/2024 là 96.888.711 đồng, làm tròn là 96.889.000 đồng (tiếp tục tính lãi đối với số tiền chênh lệch đến ngày xét xử 14/01/2025 tạm tính là 117.279.000 đồng). Tổng số tiền yêu cầu hoàn trả và bồi thường là 623.519.000 đồng.
(5) Tuyên hành vi hành chính chậm bồi thường bằng đất, chậm giao đất tái định cư cho người khởi kiện là trái quy định pháp luật; buộc UBND thành phố S phải bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người khởi kiện phát sinh từ hành vi vi phạm này, bao gồm nhưng không giới hạn bởi số tiền chênh lệch giữa giá đất năm 2022 với giá đất năm 2019 mà người khởi kiện phải nộp và tiền lãi phát sinh từ số tiền chênh lệch đó (đã xác định tại yêu cầu khởi kiện 3 và 4).
2. Ý kiến của người bị kiện UBND thành phố S:
a) Về việc thu hồi đất và bồi thường, hỗ trợ cho ông Bùi Công T và bà Lê Thị M:
Thực hiện Quyết định số 79/QĐ-UBND ngày 09/01/2017 của UBND tỉnh T về việc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình Đầu tư xây dựng công trình đường G với khu K giai đoạn 1 (sau đây viết tắt là: Dự án). Ông Bùi Công T và bà Lê Thị M có diện tích 151,2m² (đất ở 149,0m², đất trồng cây lâu năm 2,2m²) bị thu hồi thực hiện Dự án.
Ngày 04/6/2018, UBND thành phố S đã ban hành Quyết định số 2173/QĐ-UBND về việc thu hồi đất của ông Bùi Công T và bà Lê Thị M sử dụng đất tại phường Q thực hiện Dự án và Quyết định số 2184/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB cho ông Bùi Công T và bà Lê Thị M sử dụng đất tại phường Q thực hiện Dự án với diện tích thu hồi và bồi thường, hỗ trợ về đất 151,2m² (đất ở 149,0m², đất trồng cây lâu năm 2,2m²).
Căn cứ khoản 2 Điều 74 Luật Đất đai năm 2013 quy định nguyên tắc bồi thường về đất khi nhà nước thu hồi: “Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất”. Tại thời điểm thu hồi đất, UBND tỉnh T đã ban hành Quyết định số 851/QĐ-UBND ngày 08/3/2018 về việc phê duyệt giá đất cụ thể để tính tiền bồi thường giải phóng mặt bằng thực hiện Dự án (giá đất của thửa đất theo Bảng giá đất là 1.500.000 đồng/m²; giá đất cụ thể để tính tiền bồi thường là 4.005.000 đồng/m²).
Như vậy, UBND thành phố S đã quyết định thu hồi đất và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ về đất bằng tiền được tính theo giá đất cụ thể (giá đất thị trường) cho ông Bùi Công T và bà Lê Thị M là đảm bảo theo quy định của pháp luật tại thời điểm thu hồi đất.
Ngày 03/10/2018, ông Bùi Công T và bà Lê Thị M đã đồng ý nhận toàn bộ số tiền bồi thường, hỗ trợ về đất, tài sản, vật kiến trúc, cây cối hoa màu nêu trên (có giấy tờ nhận tiền của bà M kèm theo).
b) Về việc giao đất tái định cư cho ông Bùi Công T và bà Lê Thị M:
Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 108 của Luật Đất đai năm 2013 “Thời điểm tính thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất là thời điểm Nhà nước quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất” thì giá đất để thu tiền sử dụng đất là giá đất tại thời điểm nhà nước quyết định giao đất ở tái định cư.
Ngày 18/02/2022, UBND thành phố S ban hành Quyết định số 755/QĐ-UBND về việc phê duyệt giá đất (giá đất ở) để thu tiền sử dụng đất ở tái định cư tại mặt bằng quy hoạch khu tái định cư Đ, phường Q. Ngày 06/7/2022, UBND thành phố S ban hành Quyết định số 3828/QĐ-UBND về việc giao đất ở tái định cư cho ông Bùi Công T và bà Lê Thị M 01 lô đất TĐC 08:09 với diện tích 144,64m² tại mặt bằng tái định cư Đ. Ông Bùi Công T và bà Lê Thị M được UBND thành phố S giao đất năm 2022, tiền sử dụng đất phải nộp tại thời điểm giao đất theo giá đất cùng thời điểm năm 2022 là đúng các quy định của pháp luật.
Việc ông Bùi Công T và bà Lê Thị M được giao đất năm 2022, nhưng đề nghị tính giá đất để thu tiền sử dụng đất ở tái định cư theo giá đất năm 2019 là không đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án bác đơn khởi kiện của ông Bùi Công T và bà Lê Thị M.
3. Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Người đại diện hợp pháp của Chi cục S khu vực thành phố S - Q trình bày:
Tại khoản 3 Điều 108 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Thời điểm tính thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất là thời điểm Nhà nước quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất”.
Căn cứ vào Quyết định số 755/QĐ-UBND ngày 18/02/2022 của UBND thành phố S về việc phê duyệt giá đất cụ thể (giá đất ở) để thu tiền sử dụng đất ở tái định cư tại Mặt bằng quy hoạch Khu tái định cư Đ, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa; Quyết định số 3828/QĐ-UBND ngày 06/7/2022 của UBND thành phố S về việc giao đất ở tái định cư cho bà Lê Thị M có đất ở thu hồi tại phường Q để thực hiện Dự án: Chi cục S khu vực thành phố S - Q đã căn cứ vào giá đất ở tính tiền sử dụng đất tại Quyết định phê duyệt giá đất cụ thể (giá đất ở) để thu tiền sử dụng đất ở tái định cư, diện tích đất được giao tại Quyết định giao đất ở tái định cư cho bà Lê Thị M, xác định và ban hành Thông báo nộp tiền sử dụng đất là đúng quy định.
Nội dung khởi kiện của bà Lê Thị M về giá đất ở tái định cư là không thuộc thẩm quyền của Chi cục S khu vực thành phố S - Q.
3.2. Người đại diện hợp pháp của UBND tỉnh T và UBND phường Q: Không có quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.
4. Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 07/2025/HC-ST ngày 14 tháng 01 năm 2025, Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã quyết định: Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị M.
5. Kháng cáo: Ngày 21/01/2025, người khởi kiện là bà Lê Thị M có đơn kháng cáo đối với toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu của người khởi kiện.
6. Tại phiên tòa phúc thẩm:
6.1. Bà Lê Thị M giữ nguyên đơn khởi kiện và đơn kháng cáo.
6.2. Kiểm sát viên đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đầy đủ, đúng các thủ tục theo quy định của Luật Tố tụng hành chính. Việc Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành xét xử vắng mặt người bị kiện và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là đúng quy định tại Điều 225 của Luật Tố tụng Hành chính. Người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa đã thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện việc thu thập, xem xét và đánh giá đầy đủ các chứng cứ, tài liệu, lời trình bày của các đương sự, của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, từ đó đã quyết định bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị M là có căn cứ pháp luật. Bà Lê Thị M kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu của người khởi kiện nhưng không đưa ra được tài liệu, chứng cứ nào mới và cũng không chứng minh được nội dung kháng cáo là có căn cứ pháp luật. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 241 của Luật Tố tụng hành chính, bác đơn kháng cáo của bà Lê Thị M và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Trên cơ sở các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm định tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến của các đương sự, người đại diện hợp pháp và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự; ý kiến của Kiểm sát viên và nghị án,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Các đương sự đều thống nhất xác định: Thực hiện Quyết định số 79/QĐ-UBND ngày 09/01/2017 của UBND tỉnh T về việc phê duyệt dự án Đầu tư xây dựng công trình đường giao thông nối thành phố S với Khu K (giai đoạn 1). Ngày 04/6/2018, UBND thành phố S đã ban hành Quyết định số 2173/QĐ-UBND về việc thu hồi 151,2m2 đất thuộc thửa đất số 737, tờ bản đồ số 19 của ông Bùi Công T, bà Lê Thị M sử dụng tại phường Q thực hiện Dự án; đồng thời, ban hành Quyết định số 2184/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB cho 37 hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất tại phường Q (trong đó: ông T và bà M được bồi thường về đất số tiền 596.811.000 đồng; bồi thường về tài sản, vật kiến trúc số tiền 1.145.971.490 đồng và được hỗ trợ số tiền 14.099.000 đồng). Ngày 03/10/2018, ông T và bà M đã nhận đủ số tiền bồi thường, hỗ trợ và không có khiếu kiện gì đối với các khoản bồi thường, hỗ trợ này.
Ngày 11/9/2020, Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tiến hành họp xét tái định cư cho các hộ gia đình, cá nhân. Sau khi xem xét đơn đăng ký đất ở tái định cư của bà Lê Thị M, Hội đồng thống nhất bố trí cho hộ bà M 01 lô đất TĐC 08:09 diện tích 144,64m2 tại mặt bằng tái định cư Đ, phường Q, tổng giá trị thu tiền sử dụng đất là 578.560.000 đồng (4.000.000 đồng/m2). Tuy nhiên tại thời điểm này, do khu đất tái định cư chưa hoàn thiện mặt bằng nên UBND thành phố S chưa thực hiện việc giao đất cho gia đình bà M.
Ngày 06/7/2022, UBND thành phố S ban hành Quyết định số 3828/QĐ-UBND về việc giao đất ở tái định cư cho ông Bùi Công T và bà Lê Thị M 01 lô đất tái định cư TĐC 08:09 diện tích 144,64m² tại mặt bằng quy hoạch khu tái định cư Đ, phường Q, thành phố S. Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Điều 2 Quyết định này, ngày 06/7/2022 Chi cục S khu vực thành phố S - Quảng Xương ban hành Thông báo nộp tiền sử dụng đất số 1773/TB-CCT với nội dung số tiền sử dụng đất ông T, bà M phải nộp là 1.084.800.000 đồng. Ông T, bà M đã nộp đủ tiền theo Thông báo trên, nhận đất và đã được UBND thành phố S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với lô TĐC 08:09.
Bà Lê Thị M cho rằng gia đình bà đã bị thu hồi đất vào năm 2018, đã có phương án tái định cư năm 2019 - 2020 xác định số tiền phải nộp là 4.000.000 đồng/m2. Tuy vậy, tại Quyết định số 3828/QĐ-UBND về việc giao đất ở tái định cư, UBND thành phố S căn cứ vào giá đất năm 2022 theo Quyết định số 755/QĐ-UBND ngày 18/02/2022 của UBND thành phố S về việc phê duyệt giá đất cụ thể (giá đất ở) để thu tiền sử dụng đất ở tái định cư nên Chi cục Thuế khu vực S - Q đã thu thừa giữa giá đất cụ thể năm 2022 với năm 2019 của gia đình bà là 506.240.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy:
Tại khoản 2 Điều 74 của Luật Đất đai năm 2013 quy định về nguyên tắc bồi thường về đất khi nhà nước thu hồi đất như sau: “Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất”. Như vậy, UBND thành phố S đã ban hành Quyết định số 2173/QĐ-UBND ngày 04/6/2018 về việc thu hồi đất của ông Bùi Công T, bà Lê Thị M và Quyết định số 2184/QĐ-UBND cùng ngày 04/6/2018 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB cho ông Bùi Công T và bà Lê Thị M (là 1 trong 37 hộ gia đình, cá nhân tại danh sách kèm theo Quyết định số 2184/QĐ-UBND) với số tiền bồi thường về đất 596.811.000 đồng là đã áp dụng giá đất cụ thể tại thời điểm bồi thường để tính tiền bồi thường (4.005.000 đồng/m2), trong khi giá đất thu hồi theo Bảng giá đất là 1.500.000 đồng/m2.
Đối với việc thu tiền sử dụng thửa đất được tái định cư: Mặc dù ông Bùi Công T và bà Lê Thị M đã được xét bố trí tái định cư từ ngày 11/9/2020, nhưng đến ngày 06/7/2022 UBND thành phố S mới ban hành Quyết định số 3828/QĐ-UBND về việc giao đất ở tái định cư cho ông Bùi Công T và bà Lê Thị M. Theo quy định tại khoản 3 Điều 108 của Luật Đất đai năm 2013 thì: “Thời điểm tính thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất là thời điểm Nhà nước quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, công nhận quyền sử dụng đất”. Do đó, việc Chi cục Thuế khu vực thành phố S - Q căn cứ vào diện tích lô đất, giá đất ở cụ thể quy định tại Quyết định số 755/QĐ-UBND ngày 18/02/2022 của UBND thành phố S để ban hành Thông báo nộp tiền sử dụng đất số 1773/TB-CCT ngày 06/7/2022 với nội dung ông Bùi Công T và bà Lê Thị M phải nộp số tiền sử dụng đất 1.084.800.000 đồng là đúng quy định tại khoản 3 Điều 108 của Luật Đất đai năm 2013 đã trích dẫn ở trên. Việc bà M yêu cầu áp dụng giá đất cụ thể (giá đất ở) để thu tiền sử dụng đất ở tái định cư được phê duyệt tại Quyết định số 6420/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 của UBND thành phố S để tính tiền sử dụng đất phải nộp đối với lô đất được giao tái định cư năm 2022 là không có căn cứ pháp luật.
Đối với yêu cầu của bà Lê Thị M về việc hủy một phần Quyết định số 755/QĐ-UBND ngày 18/02/2022 của UBND thành phố S liên quan đến lô đất tái định cư của gia đình bà, xét thấy: Thực hiện Quyết định số 292/QĐ-UBND ngày 18/01/2022 của UBND tỉnh T về việc ủy quyền phê duyệt giá đất cụ thể để tính tiền bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất, giá đất cụ thể để giao đất tái định cư…, UBND thành phố S đã thành lập Hội đồng thẩm định giá đất gồm đại diện các cơ quan chức năng tiến hành phương pháp so sánh trực tiếp kết hợp với phương pháp hệ số điều chỉnh giá đất để xác định giá đất cụ thể là bảo đảm tính chính xác, phù hợp với quy định tại điểm b khoản 4 Điều 114 của Luật Đất đai năm 2013; khoản 1, khoản 5 Điều 4, Điều 5, khoản 2 Điều 18 Nghị định số 44/2015/NĐ-CP của Chính phủ và các Điều 3, 7, 8 Thông tư số 36/2014/TT-BTNMT của Bộ T1. Việc bà M cho rằng UBND thành phố S sử dụng phương pháp so sánh trực tiếp kết hợp với phương pháp hệ số điều chỉnh giá đất để xác định giá đất cụ thể trái quy định của pháp luật là do bà M chưa xem xét đầy đủ, toàn diện, tính liên quan giữa các quy định của pháp luật. Mặc dù Tòa án cấp sơ thẩm chưa đánh giá về nội dung yêu cầu khởi kiện này của bà M là có thiếu sót, tuy nhiên đã quyết định bác yêu cầu của bà M về việc hủy một phần Quyết định số 755/QĐ-UBND ngày 18/02/2022 của UBND thành phố S thì theo những nội dung phân tích ở trên là có căn cứ, đúng quy định tại điểm a khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính.
Tổng hợp những nội dung phân tích ở trên và ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Hà Nội phát biểu tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở kết luận:
Tòa án cấp sơ thẩm xác định các quyết định hành chính, hành vi hành chính do bà Lê Thị M khiếu kiện đã được người bị kiện ban hành, thực hiện đều hợp pháp nên các nội dung khởi kiện của bà M về yêu cầu hoàn trả, yêu cầu bồi thường thiệt hại là không có căn cứ pháp luật. Từ đó, đã quyết định bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị M là đúng quy định tại điểm a khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính.
Bà Lê Thị M kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm nhưng những lý do, căn cứ của việc kháng cáo là không phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ sở chấp nhận.
Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên người kháng cáo phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 241 của Luật Tố tụng hành chính: Bác kháng cáo của người khởi kiện bà Lê Thị M; giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 07/2025/HC-ST ngày 14 tháng 01 năm 2025 của Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 349 của Luật Tố tụng hành chính; khoản 1 Điều 34 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội: Bà Lê Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính phúc thẩm; được trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí hành chính phúc thẩm bà Lê Thị M đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000837 ngày 13 tháng 02 năm 2025.
Bản án hành chính phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 17 tháng 10 năm 2025).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT về hành chính TAND tối cao; - Viện Công tố và KSXXPT tại Hà Nội; - TAND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - THADS tỉnh Thanh Hóa; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Điền |