- Tranh chấp gì? "Nguyễn Thu H - lừa đảo chiếm đoạt tài sản - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thu H; giữ nguyên B n án hình sự sơ thẩm s 143/2024/HS-ST ngày 19/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật t tụng hình sự; Điều 355 Bộ luật T tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
T A N NH N D N
C NG H A
H CH NGH A V T NAM T NH L M Đ NG
Đ c p – T do – H nh ph c B n án s 206/2024/HS-PT Ngày 18-11-2024
NHÂN DANH
N C C NG H A
H CH NGH A V T NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN T NH L M Đ NG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Hồng
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Duy Hoài
Ông Nguyễn Công Hoàn
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Qu c Huy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Dịu - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý S 207/2024/TLPT-HS ngày 22/10/2024 đ i với bị cáo Nguyễn Thu H do có kháng cáo của bị cáo đ i với B n án hình sự sơ thẩm s 143/2024/HS-ST ngày 19/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
Bị cáo kháng cáo:
Nguyễn Thu H; sinh năm 1975; tại: Hà Nội; nơi ĐKHKTT: Thôn 1, xã CS, huyện Thạch Thất, thành ph Hà Nội; nơi cư trú: thôn LT, xã TH, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; qu c tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trọng Th và bà Nguyễn Thị T; chồng Lê Văn H (đã ly hôn), có 02 con sinh năm 1997 và 1999; tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giam từ ngày 22/4/2024, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Lâm Hà. (có mặt)
Trong vụ án này, còn có bị hại không kháng cáo, vụ án không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
N I DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau
Vào tháng 8/2021 và tháng 01/2022, Nguyễn Thu H do làm ăn thua lỗ dẫn đến nợ nần nhiều nên đã lợi dụng việc bà Nguyễn Thị B là người có tiền và có nhu cầu mua đất; H đã n y sinh ý định lừa d i bà B thông qua việc đầu tư mua đất chung để chiếm đoạt tiền sử dụng vào mục đích cá nhân, cụ thể như sau
Lần thứ nhất: Vào ngày 27/8/2021, H và bà B có điện thoại nói chuyện với nhau, H nói với bà B có một m nh đất thuộc thửa s 136 tờ b n đồ s 50 tại xã ĐP, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng bán với giá 200.000.000 đồng/1000m2 (thực tế m nh đất này mới được đo họa đồ và chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). H rủ bà B góp tiền mua đất chung tại m nh đất này thì bà B đồng ý. H nhắn tin với bà B qua tài kho n zalo và nói bà B góp được bao nhiêu thì góp còn lại thì H lo. Nhưng trên thực tế, H không có tiền và cũng chưa th ng nhất việc mua bán với chủ đất là ông Nguyễn Huy H mà H chỉ mới liên hệ ông H để trao đổi về việc mua bán m nh đất trên. Tuy nhiên H vẫn nói với bà B góp tiền cho H nhằm mục đích khi bà B chuyển tiền cho H thì H sẽ chiếm đoạt tiền của bà B.
Ngày 15/9/2021, do tin tưởng H nên bà B đến Ngân hàng Agribank chi nhánh Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội chuyển kho n s tiền 50.000.000 đồng vào s tài kho n 64610000339792, ngân hàng BIDV, tên người thụ hưởng là Nguyễn Thu H; đây là s tiền mà bà B chuyển kho n để H đi cọc đất. Sau khi nhận được tiền, vào buổi chiều cùng ngày, H nhắn tin cho bà B với nội dung “C B ơi, em xuống tiền xong rồi c nhé”, “ sáng thứ 7 họ vô đo đạc e lên ủy ban xác nhận rồi e gửi hồ sơ qua c biết”, bà B có nhắn “ Ok mọi việc cứ thế tiến hành làm”. Song thực tế, H không đặt cọc đất và không liên hệ bộ phận đo đạc để đo m nh đất trên. Những ngày sau đó, H vẫn tiếp tục nhắn tin nói bà B chụp nh căn cước công dân và sổ hộ khẩu để làm thủ tục tách thửa, sang tên sổ đất để cho bà B tin là thật.
Ngày 20/10/2021, H nhắn tin qua tài kho n zalo cho bà B nói nộp tiền lệ phí sang nhượng đất. Để bà B tin tưởng, H có chụp cho bà B 01 tờ giấy do H ghi về lệ phí, tiền thuế sang nhượng, phát hành sổ hết s tiền là 23.100.000đồng và gởi cho bà B phiếu tiếp nhận hồ sơ và hẹn tr lời kết qu . Tuy nhiên, đây là phiếu hẹn tr lời kết qu của một lô đất khác mà H mua trước đó. Đồng thời, H nhắn tin nói với bà B là hôm nay H đi nộp thuế rồi để bà B tin tưởng. Đến ngày 21/10/2021, bà B tiếp tục chuyển kho n cho H s tiền 11.550.000 đồng theo như H yêu cầu (do mua đất chung nên giữa bà B và H thỏa thuận chia nhau về kho n lệ phí). Đến ngày 12/11/2021, bà B chuyển kho n n t s tiền 100.000.000 đồng cho H, tổng s tiền bà B đã chuyển cho H để mua chung lô đất trên là 161.550.000đồng. Ngay sau khi bà B chuyển tiền vào tài kho n của H thì H không sử dụng s tiền này đi mua đất như đã thỏa thuận mà H đã rút tiền nhiều lần rồi sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân.
Lần thứ hai: Vào tháng 01/2022, H biết ông Phan Vĩnh C có ý định bán đất tại xã HA, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng. H đã đến gặp ông C và hỏi về giá c thì được biết ông C bán đất với giá 01 tỷ đồng/1.000m2; H cũng chưa th ng nhất việc thỏa thuận mua bán với ông C. Tuy nhiên, vào kho ng 09 giờ ngày 28/01/2022, H điện thoại rủ bà B mua chung m nh đất này với giá 03 tỷ đồng. H cũng nói với bà B góp được bao nhiêu thì góp còn lại H lo. H nói “ có cái đám đất này gia chủ cần tiền để cho người đi viện, đặt cọc trước 600 triệu đồng, còn lại khi nào làm được sổ đất thì sẽ trả tiền dần, không phải trả liền”, “ chị em mình mỗi người 300 triệu”. Đồng thời, H cũng gọi điện thoại video cho bà B xem m nh đất để tạo sự tin tưởng nên bà B đồng ý. Kho ng 18 giờ 30 phút cùng ngày, bà B nhờ bạn là Phạm Đỗ Doan chuyển kho n cho H s tiền 200.000.000đồng. Do mạng lỗi nên ông Doan đã chuyển kho n 02 lần đến tài kho n ngân hàng của H với tổng s tiền là 400.000.000đồng. Do thỏa thuận chỉ đầu tư mua đất chung với H s tiền 300.000.000đồng nên ngày 07/02/2022, H đã chuyển tr lại cho bà B s tiền 100.000.000đồng. Sau khi nhận được tiền của bà B thì H không sử dụng để đi đặt cọc mua đất như đã thỏa thuận mà rút tiền ra rồi sử dụng vào mục đích cá nhân. Quá trình điều tra, Nguyễn Thu H đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình.
Tại B n cáo trạng s 133/CT-VKS ngày 19/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng đã truy t ra trước Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà để xét xử bị cáo Nguyễn Thu H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a kho n 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây viết tắt là BLHS 2015)
B n án hình sự sơ thẩm s 143/2024/HS-ST ngày 19/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà đã xử;
Tuyên b bị cáo Nguyễn Thu H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm a kho n 3 Điều 174; các điểm b, s kho n 1, kho n 2 Điều 51; kho n 1 Điều 54; Điều 38 BLHS 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thu H 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/4/2024.
Ngoài ra, b n án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 02/10/2024 bị cáo kháng cáo xin gi m nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung b n án hình sự sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện Lâm Hà đã tuyên xử đ i với bị cáo; tuy nhiên, bị cáo trình bày s tiền bị cáo chiếm đoạt của bà B lần thứ 2 là 200.000.000 đồng, tổng cộng s tiền chiếm đoạt là 361.550.000 đồng, đã khắc phục, bồi thường hết s tiền trên cho bị hại, đồng thời giữ nguyên nội dung kháng cáo xin gi m nhẹ hình phạt và không xuất trình thêm tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự mới.
Kiểm sát viên giữ quyền công t tại phiên tòa phúc thẩm phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a kho n 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật t tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên b n án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH C A T A N:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (sau đây viết là HĐXX) nhận định như sau:
[1] Xét đơn kháng cáo của bị cáo đến Toà án trong hạn luật định nên thời hạn kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, nội dung kháng cáo xin gi m nhẹ hình phạt.
[2] Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận: Vào kho ng tháng 8/2021, biết bà Nguyễn Thị B có nhu cầu đầu tư mua đất tại tỉnh Lâm Đồng, bị cáo H đã có hành vi đưa ra các thông tin gian d i về việc mua đất, đặt cọc, làm thủ tục sang nhượng lô đất tại xã ĐP, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng để chiếm đoạt s tiền 161.550.000đồng của bà B. Đến kho ng tháng 01/2022, cũng với thủ đoạn tương tự, bị cáo H tiếp tục có hành vi đưa các thông tin gian d i về việc mua đất, đặt cọc, làm thủ tục sang nhượng lô đất tại xã HA, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng rồi chiếm đoạt s tiền 300.000.000đồng của bà B. Tổng s tiền bị cáo chiếm đoạt của bị hại là 461.550.000 đồng.
[3] Tại phiên toà sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như b n án hình sự sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện Lâm Hà đã xét xử và thừa nhận bị cáo nhận 400.000.000 đồng nhưng đã chuyển tr lại cho bà B s tiền 100.000.000 đồng vào ngày 07/02/2022, tổng s tiền bị cáo chiếm đoạt của bà H là 361.550.000 đồng. Tội phạm và hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo được b n án sơ thẩm phân tích, đánh giá và tuyên b bị cáo Nguyễn Thu H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a kho n 3 Điều 174 BLHS 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Xét kháng cáo của bị cáo xin gi m nhẹ hình phạt, HĐXX thấy rằng khi quyết định hình phạt b n án sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật tại điểm b, s kho n 1, kho n 2 Điều 51; BLHS 2015 và áp dụng Điều 54 BLHS 2015 xử phạt bị cáo mức án 05 năm tù, dưới mức khởi điểm của khung hình phạt, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật trong đấu tranh phòng ch ng tội phạm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo, không xuất trình thêm tình tiết gi m nhẹ trách nhiệm hình sự mới. Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo là có căn cứ, đ m b o tính răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung
Từ những nhận định trên, HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên b n án sơ thẩm.
[5] Về án phí Do kháng cáo không được HĐXX phúc thẩm chấp nhận nên bị cáo ph i chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a kho n 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật T tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thu H; giữ nguyên B n án hình sự sơ thẩm s 143/2024/HS-ST ngày 19/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
1. Về tội danh:
Tuyên b bị cáo Nguyễn Thu H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
2. Về hình phạt:
Áp dụng điểm a kho n 3 Điều 174; các điểm b, s kho n 1, kho n 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thu H 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/4/2024.
3. Về án phí: Áp dụng kho n 2 Điều 136 Bộ luật t tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Qu c hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo ph i chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của b n án sơ thẩm không có kháng cáo, không có kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, hết thời hạn kháng nghị.
B n án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Lâm Đồng (01); - Vụ GĐKT I – TANDTC (01); - Phòng KTNV&THA (04); - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng (01); - TAND huyện Lâm Hà (04); - VKSND huyện Lâm Hà (01); - Cơ quan CSĐT CA huyện Lâm Hà); - Cơ quan THAHS huyện Lâm Hà 01); - Phòng PV 06 - Công an tỉnh Lâm Đồng (01); - Bị cáo (03); Nhà tạm giữ (02); - Hồ sơ THAHS (04); - Lưu hồ sơ; Án văn. | TM. H Đ NG ÉT Ử PHÚC THẨM THẨM PH N – CH TỌA PH ÊN T A Đã ký Nguyễn Hữu Hồng |