- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Thành L và đòng phạm - Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án ngày 23/9/2024.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Thông tư số 22/2019/TT-BYT quy định tỷ lệ phần trăm tổn thươ…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 206/2024/HSST Ngày 23 tháng 9 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thức
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Như Ngọc – Bí Thư quận Đoàn quận Bình Thạnh
Ông Lê Ngọc Lâm – Phòng Y tế quận Bình Thạnh
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Xuân Trường - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Mai Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 87/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 198/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2024/HSST-QĐ ngày 20/8/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2024/HSST-QĐ ngày 20/9/2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: L (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 16/6/2006; Giới tính: Nam; Nơi sinh: Thành phố H; Nơi ĐKHKTT: 242/7/12 N, phường T, quận J, Thành phố H; Chỗ ở: Như trên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Sinh viên Cao đẳng B; Họ tên cha: Đặng Hiếu T, sinh năm 1976; Họ tên mẹ: Trần Thị T, sinh năm 1976; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là người thứ 1 trong gia đình; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không có; Biện pháp ngăn chặn: Tạm giam từ ngày 16/12/2022 đến ngày 11/01/2023 thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú;
2. Họ và tên: Trương Bảo L (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 21/10/2006; Giới tính: Nam; Nơi sinh: Thành phố H; Nơi ĐKHKTT: Số 017 Lô F, chung cư N, phường I, quận K, Thành phố H; Chỗ ở: Như trên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Sinh viên trường T; Họ tên cha: Chương Thanh H, sinh năm 1968; Họ tên mẹ: Ngô Thị L, sinh năm 1968; Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là người thứ 3 trong gia đình; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không có; Biện pháp ngăn chặn: Tạm giam từ ngày 16/12/2022 đến ngày 11/01/2023 thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú;
3. H (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 03/8/2006; Giới tính: Nam; Nơi sinh: Cà Mau; Nơi ĐKHKTT: Khóm 6, thị trấn C, H, tỉnh C; Chỗ ở: 183/9 đường B, phường P, quận O, Thành phố H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Sinh viên trường Đại học C; Họ tên cha: Lê Khắc K, sinh năm 1983; Họ tên mẹ: Phan Thị Mỹ H, sinh năm 1982; Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là người thứ 1 trong gia đình; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không có; Biện pháp ngăn chặn: Tạm giam từ ngày 16/12/2022 đến ngày 11/01/2023 thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú;
4. TH (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 25/01/2006; Giới tính: Nam; Nơi sinh: Quảng Ngãi; Nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã N, H, tỉnh Q; Chỗ ở: 137 đường W, phường K, quận B, Thành phố H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Học sinh (học lại tại Trường THPT tư thục H); Họ tên cha: Nguyễn B, sinh năm 1968; Họ tên mẹ: Dương Thị Thu D, sinh năm 1973; Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là người thứ 3 trong gia đình; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không có; Biện pháp ngăn chặn: Tạm giam từ ngày 16/12/2022 đến ngày 11/01/2023 thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú;
5. N (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 01/03/2005; Giới tính: Nam; Nơi sinh: TP.Hồ Chí Minh; Nơi ĐKHKTT: 575/80 đường N, phường I, quận K, Thành phố H; Chỗ ở: 16/41/8 N, phường T. quận J, Thành phố H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Hoa; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Sinh viên trường Cao Đẳng L; Họ tên cha: H, sinh năm 1975; Họ tên mẹ: N, sinh năm 1978; Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là người thứ 1 trong gia đình; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không có; Biện pháp ngăn chặn: Tạm giam từ ngày 16/12/2022 đến ngày 11/01/2023 thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú;
6. Đỗ Đức H (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 23/11/2006; Giới tính: Nam; Nơi sinh: TP.H; Nơi ĐKHKTT: 102/12 V, phường W, quận U, Thành phố H; Chỗ ở: 403A N, phường B, thành phố T, Thành phố H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Sinh viên trường Đại học C; Họ tên cha: Đỗ Ngọc C, sinh năm 1972; Họ tên mẹ: Đỗ Thị Ngọc T, sinh năm 1977; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là người thứ 2 trong gia đình; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không có; Biện pháp ngăn chặn: Tạm giam từ ngày 16/12/2022 đến ngày 11/01/2023 thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú;
7. T (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 06/5/2006; Giới tính: Nam; Nơi sinh: TP.H; Nơi ĐKHKTT: 629/73 đường N, phường I, quận L, Thành phố H; Chỗ ở: 7/55 T, phường F, quận K, Thành phố H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Sinh viên trường Đại học Quốc Tế, Đại học Quốc gia Thành phố H; Họ tên cha: Nguyễn Đăng T, sinh năm 1972; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1974; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là người thứ 2 trong gia đình; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không có; Biện pháp ngăn chặn: Tạm giam từ ngày 16/12/2022 đến ngày 11/01/2023 thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú;
Những người tham gia tố tụng:
1. Bị hại:
1.1. Em H, sinh ngày 17/7/2006
Địa chỉ: 117/10 đường Thống Nhất, phường 11, quận Bình Thạnh, TP.Hồ Chí Minh
Đại diện hợp pháp: Bà T (mẹ ruột).
Địa chỉ: 117/10 đường Thống Nhất, phường 11, quận Bình Thạnh, TP.Hồ Chí Minh
1.2. Em Cao L H, sinh ngày 22/01/2006
Địa chỉ: 138/25/21B đường số 223, phường 5, quận Gò Vấp, TP.Hồ Chí Minh
Đại diện hợp pháp: Ông Cao Văn L (bố ruột)
Địa chỉ: 138/25/21B đường số 223, phường 5, quận Gò Vấp, TP.Hồ Chí Minh
2. Đại diện hợp pháp cho các bị cáo:
2.1. Đại diện hợp pháp cho bị cáo L là ông Đặng Hiếu Trung và bà Trần Thị Thu (là cha, mẹ ruột).
Địa chỉ: 242/7/12 Nguyễn Thiện Thuật, phường 3, quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh
2.2. Đại diện hợp pháp cho bị cáo Trương Bảo L là ông Trương Thanh H và bà Ngô Thị Loan (là cha, mẹ ruột).
Địa chỉ: 65 Cư xá đường Sắt, Lý Thái Tổ, phường 1, quận 3, TP. Hồ Chí Minh
2.3. Đại diện hợp pháp cho bị cáo H là ông Lê Khắc Kiệt và bà Phan Thị Mỹ Hạnh (là cha, mẹ ruột).
Địa chỉ: 183/9 đường Bùi Viện, phường Phạm Ngũ Lão, quận 1, TP. Hồ Chí Minh
2.4. Đại diện hợp pháp cho bị cáo TH là ông Nguyễn Ba và bà Dương Thị Thu Dung (là cha, mẹ ruột).
Địa chỉ: 137 đường Quốc Lộ 13, phường 26, quận Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh
2.5. Đại diện hợp pháp cho bị cáo Lợi Gia Nguyễn là ông Lợi Vĩnh Huê và bà Nguyễn Thị Mỹ Nữ (là cha, mẹ ruột).
Địa chỉ: 16/41/8 Nguyễn Thiện Thuật, phường 2. quận 3, TP. Hồ Chí Minh
2.6. Đại diện hợp pháp cho bị cáo Đỗ Đức H là ông Đỗ Ngọc Cường và bà Đỗ Thị Ngọc Tuyết (là cha, mẹ ruột).
Địa chỉ: 403A Nguyễn Duy Trinh, phường Bình Trưng Đông, thành phố Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh
2.7. Đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Đăng Tân là ông Nguyễn Đăng Trung và bà Nguyễn Thị Thanh Thủy (là cha, mẹ ruột).
Địa chỉ: 7/55 Thành Thái, phường 14, quận 10, TP. Hồ Chí Minh
3. Người bào chữa chỉ định cho các bị cáo và bị hại:
3.1. Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Trương Bảo L là bà Phan Thị Ngọc Thanh
- Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước, Thành phố Hồ Chí Minh
3.2. Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Đặng Thanh L và H là bà Nguyễn Thị Quỳnh Như - Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước, Thành phố Hồ Chí Minh
3.3. Người bào chữa chỉ định cho bị cáo TH và N – Luật sư Trịnh Công Minh - là Luật sư của Công ty Luật TNHH Trương Anh Tú - Thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh
3.4. Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Đỗ Đức H và Nguyễn Đăng Tân - Luật sư Huỳnh Khắc Thuận - là Luật sư của Công ty Luật TNHH Trương Anh Tú -Thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh
3.5. Người báo chữa chỉ định cho các bị hại em H và em Cao L H: Luật sư Nguyễn Tấn Đạt - Là luật sư thuộc Công ty Luật TNHH Clinic Leal - Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Người bào cho các bị cáo:
Người bào chữa cho bị cáo L và H - Luật sư Trương Anh Tú và Luật sư Trương Ngọc Liêu, thuộc công ty luật TNHH Trương Anh Tú chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh, Thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội.
(Các bị cáo, đại diện hợp pháp cho các bị cáo, Luật sư, trợ giúp viên pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bị cáo có mặt tại phiên tòa; Bị hại, đại diện hợp pháp cho các bị hại, Luật sư bào chữa chỉ định cho các bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt và vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 07/12/2022, đội bóng của L (sinh ngày 16/6/2006) tham gia đá banh với đội của H (sinh ngày 17/7/2006) và Cao L H (sinh ngày 22/01/2006) tại sân TBG số 407/19 đường Nguyễn Xí, Phường 13, quận Bình Thạnh thì xảy ra mâu thuẫn do hai bên đều cho rằng bên kia đá xấu. Chiều ngày 11/12/2022, hai đội tiếp tục rủ nhau đá banh tại sân TBG số 407/19 đường Nguyễn Xí, Phường 13, quận Bình Thạnh, L không tham gia đá banh do có việc bận, lúc này Đặng Phạm Quang Anh (sinh ngày 28/2/2004) cùng chung nhóm đá banh của L có nhắn tin trên nhóm chung “Tụi nó có đồ” thì L có nhắn hỏi lại “nó đông không” thì Quang Anh nhắn lại “tụi nó đông và nghĩ đồ để trong cốp”. Khi đó L đang ngồi ở quán café Thiên Sinh ở chung cư Nguyễn Thiện Thuật, Quận 3 đã rủ Đỗ Đức H (sinh ngày 23/11/2006), H (sinh ngày 03/8/3006), Mạc Hữu Tài (sinh ngày 29/4/2007), Đỗ Anh Quân (sinh ngày 12/12/2006), Trương Bảo L (sinh ngày 21/10/2006), T (sinh ngày 06/5/2006) chuẩn bị hung khí để đánh nhóm của H và Cao L H thì cả nhóm đồng ý. H rủ thêm TH (sinh ngày 25/01/2006), Võ Văn Giàu (sinh ngày 23/12/2006), Đỗ Viết Thiện (chưa rõ lai lịch), còn Mạc Hữu Tài rủ thêm N (sinh ngày 01/3/2005), ngoài ra còn có Nguyễn Quốc H (chưa rõ lai lịch), Minh Tú (chưa rõ lai lịch) cùng tham gia. Cả nhóm hẹn nhau tại quán café Thiên Sinh sau đó xuất phát đến sân bóng đá. Tại đây Đức H lấy bao đựng hung khí (mà trước đó L giao cho Mạc Hữu Tài giữ, bên trong có 5 cây mã tấu và 1 tuýp sắt) bỏ xuống đất thì L, Trương Bảo L, T, Mạc Hữu Tài, Đỗ Anh Quân mỗi người lấy 01 cây mã tấu, Thiện cầm cây túyp sắt.
Đến khi nhóm L chia hung khí xong thì nhìn thấy bạn là Nguyễn Hoàng L (sinh ngày 03/5/2005) chở Bùi Xuân Vinh (sinh ngày 18/9/2006) chạy ra, L hỏi “Đâu tụi nó đâu rồi” thì Hoàng L nói “đang trả tiền sân trong đó”. Đứng đợi được khoảng 5-10 phút thì Nguyễn Hoàng L thấy H và Cao L H đang chạy xe ra thì Nguyễn Hoàng L nói “nó kìa”. Lúc này N chở Mạc Hữu Tài với Trương Bảo L, H chở T, TH chở Võ Văn Giàu đi đến, còn Thiện chở Quốc H tông vào xe của H và Cao L H làm 02 người ngã xuống đường. Cả nhóm trong đó có L, Trương Bảo L, T, Thiện cầm hung khí xông vào đánh chém H và Cao L H.
Sau khi thực hiện hành vi gây thương tích cho các bị hại H và Cao L H cả nhóm cầm hung khí bỏ chạy về quán cà phê Thiên Sinh tại Chung cư Nguyễn Thiện Thuật, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh bỏ mã tấu vào bao và cất giấu vào lùm cây tại quán, còn H và Cao L H được đưa vào bệnh viện điều trị vết thương.
Sau sự việc, H và Cao L H đã đến Cơ quan công an trình báo vụ việc và yêu cầu khởi tố vụ án các bị cáo.
Tại Cơ quan điều tra các bị can đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Bản kết luận giám định thương tích số: 163/TgT.23 ngày 21/3/2023 của Trung tâm Pháp y – Sở y tế Thành phố Hồ Chí Minh xác định thương tích của H như sau:
Dấu hiệu chính qua giám định:
- Vết thương vùng thắt lưng phải đã được điều trị, hiện còn một vết còn chỉ khâu kích thước 3x0,05cm, ổn định.
2. Theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần:
- Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 01% (Một phần trăm).
3. Kết luận khác:
- Vết thương do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc tác động gây ra, không nguy hiểm đến tính mạng.
Bản kết luận giám định thương tích số 83/TgT.23 ngày 20/2/2023 của Trung tâm Pháp y – Sở y tế Thành phố Hồ Chí Minh xác định thương tích của Cao L H như sau:
Dấu hiệu chính qua giám định:
- Vết thương mặt sau 1/3 dưới cánh tay phải gây đứt da, đứt cơ tam đầu cánh tay, gãy trên lồi cầu cánh tay đã được điều trị khâu gân, cơ, mở rộng vết thương, kết hợp xương, dẫn lưu, hiện còn:
+ Một sẹo trùng sẹo mổ kích thước 19 x (0,1-0,3)cm
+ Một sẹo dẫn lưu kích thước 0,5 x 0,5cm
+ Hình ảnh gãy xương có dụng cụ kết hợp xương trên XQuang.
+ Hình ảnh đứt bán phần cũ gân duỗi, gân tam cơ dầu trên siêu âm
+ Vận động khuỷu, cẳng, bàn, ngón tay phải không giới hạn. Cảm giác bình thường.
2. Theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần:
- Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 24% (Hai mươi bốn phần trăm).
3. Kết luận khác:
- Vết thương do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc tác động gây ra, không nguy hiểm đến tính mạng
Cơ quan điều tra đã mời: L, H, Mạc Hữu Tài, Đỗ Anh Quân, Nguyễn Hoàng L, Võ Văn Giàu, T, TH, N, Đỗ Đức H, Bùi Xuân Vinh, Đặng Phạm Quang Anh, Trương Bảo L về làm việc.
+ Vật chứng thu giữ:
- 01 bao có chữ Shimano bên trong có 05 cây dao tự chế, Cơ quan điều tra thu giữ được;
- 01 tuýp sắt không thu giữ được.
- 01 điện thoại di động I phone 11 pro max là tài sản cá nhân của L. Cơ quan điều tra đã trả lại cho L
+ Về trách nhiệm dân sự:
Đại diện gia đình của các bị cáo đã tự nguyện bồi thường tiền thuốc men, chi phí điều trị và trách nhiệm dân sự khác cho bị hại Cao L H là 100.000.000 đồng và bồi thường trách nhiệm dân sự cho bị hại H 50.000.000 đồng. Ngoài ra bị hại và đại diện hợp pháp cho các bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo, do các bị cáo còn nhỏ tuổi, nông nổi, tức thời, tại thời điểm phạm tội còn là học sinh trong độ tuổi ăn học còn tương lai phía trước.
Tại bản Cáo trạng số: 87/CT-VKSBT ngày 06 tháng 3 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh đã truy tố các bị cáo L, H, Trương Bảo L, TH, N, Đỗ Đức H và T về tội “Cố ý gây thương tích”, được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo L, H, Trương Bảo L, TH, N, Đỗ Đức H và T đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình giống như lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đồng thời các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh đã truy tố. Quá trình điều tra các bị cáo L, H, Trương Bảo L, TH, N, Đỗ Đức H và T tự nguyện khai báo không bị ép buộc, mớm cung, dùng nhục hình hoặc các thủ đoạn khác để các bị cáo phải khai trái ý muốn của mình. Quá trình lấy lời khai đều có sự tham gia của đại diện hợp pháp hoặc luật sư bào chữa chỉ định cho các bị cáo. Các bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, tạo điều kiện cho các bị cáo được hưởng án treo, được ở ngoài xã hội để tiếp tục con đường học vấn khi được nói lời nói sau cùng.
+ Sự vắng mặt của bị hại em Cao H L và đại diện hợp pháp của bị hại là ông Cao Văn L (cha ruột): Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị hại và đại diện hợp pháp đến tham gia phiên tòa. Tuy nhiên bị hại em Cao H L và đại diện hợp pháp của bị hại là ông Cao Văn L làm đơn xin xét xử vắng mặt, không yêu cầu bồi thường gì thêm về trách nhiệm dân sự và từ chối người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp tại phiên tòa cho bị hại Cao H L. Qua nghiên cứu hồ sơ thể hiện đã ghi nhận đầy đủ lời khai của bị hại và đại diện hợp pháp cho bị hại. Về trách nhiệm dân sự đại diện gia đình của các bị cáo đã tự nguyện bồi thường tiền thuốc men, chi phí điều trị và trách nhiệm dân sự khác cho bị hại Cao L H là 100.000.000 đồng. Do đó việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
+ Sự vắng mặt của bị hại em H và đại diện hợp pháp của bị hại là Trần Thị Thanh Thùy (Mẹ ruột): Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị hại và đại diện hợp pháp đến tham gia phiên tòa. Tuy nhiên đến đến ngày xét xử bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt không thông báo lý do, nên Tòa án đã quyết định hoãn phiên Tòa. Đến phiên tòa xét xử lần thứ 2 bị hại và đại diện hợp pháp bị hại vẫn vắng mặt. Qua nghiên cứu hồ sơ thể hiện đã ghi nhận đầy đủ lời khai của bị hại H và đại diện hợp pháp cho bị hại. Về trách nhiệm dân sự đại diện gia đình của các bị cáo đã tự nguyện bồi thường tiền thuốc men, chi phí điều trị và trách nhiệm dân sự khác cho bị hại H 50.000.000 đồng, nên bị hại và đại diện hợp pháp cho bị hại làm đơn bãi nại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo, do các bị cáo còn nhỏ tuổi, nông nổi, tức thời, tại thời điểm phạm tội còn là học sinh trong độ tuổi ăn học còn tương lai phía trước. Bị hại và đại diện hợp pháp cho bị hại không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì thêm về trách nhiệm dân sự, do đó việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Hội đông xét xử cũng xem xét, do các bị hại em H và em Cao L H bị xâm phạm trong độ tuổi vi thành viên, dưới 18 tuổi. Mặc dù bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại em Cao L H đã từ chối người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp tại Tòa. Tuy nhiên, để đảm bảo lợi ích tốt nhất cho các bị hại và để đảm bảo đúng quy định, nên Tòa án đã mời Luật sư Nguyễn Tấn Đạt - Là luật sư thuộc Công ty Luật TNHH Clinic Leal – Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh bào chữa chỉ định cho các bị hại em H và em Cao L H tại phiên tòa là đúng quy định của pháp luật.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh thực hành quyền công tố trình bày quan điểm của Viện kiểm sát đối với vụ án, sau khi phân tích tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, đã giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo L, H, Trương Bảo L, TH, N, Đỗ Đức H và T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm o khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90, 91 và Điều 101; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo L từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 (bốn) đến 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án.
2. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm o khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90, 91 và Điều 101; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo H từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 (ba) đến 04 (năm) năm tính từ ngày tuyên án.
3. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90, 91 và Điều 101; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Trương Bảo L từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 (ba) đến 04 (năm) năm tính từ ngày tuyên án.
4. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90, 91 và Điều 101; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo TH từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 (ba) đến 04 (năm) năm tính từ ngày tuyên án.
5. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90, 91 và Điều 101; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo N từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 (ba) đến 04 (năm) năm tính từ ngày tuyên án.
6. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90, 91 và Điều 101; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Đỗ Đức H từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 (ba) đến 04 (năm) năm tính từ ngày tuyên án.
7. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90, 91 và Điều 101; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo T từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 (ba) đến 04 (năm) năm tính từ ngày tuyên án.
Về trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết xong, nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý. Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.
+ Tại phiên Tòa Luật sư Trương Anh Tú và Trương Ngọc Liêu bào chữa cho 02 bị cáo L và H trình bày lời bào chữa như sau: Luật sư thống nhất tội danh, điều luật truy tố và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo L và H mà Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thành Thạnh đã đề nghị. Tuy nhiên Luật sư không đồng tình quan điểm của Viện kiểm sát áp dụng tình tiết tăng tặng trách nhiệm hình sự đối với 02 bị cáo “Xúi dục người dưới 18 tuổi phạm tội” theo điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 bởi lẽ:
- Thứ nhất, mặc dù tình tiết tăng nặng quy định tại Điểm o Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự chi quy định về độ tuổi của người bị xúi giục là “dưới 18 tuổi” và không có quy định về độ tuổi của bị can, bị cáo, người thực hiện hành vi xúi giục. Tuy nhiên, điều đó không mặc nhiên được hiểu, bất kỳ bị can, bị cáo nào cũng có thể áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự này.
Bộ luật Hình sự hiện hành có nhiều quy định, trong đó đơn cử như quy định về tội Hiếp dâm (Điều 141) phần giả định chỉ quy định “Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc bằng thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân...” mặc dù nhà làm luật quy định là “Người nào” nhưng thực tế xét xử từ trước đến nay, căn cứ vào nhiều yếu tố, bao gồm cả khía cạnh khoa học thuộc lĩnh vực sinh học, tâm lý học... chủ thể của tội này phải là nam giới, nữ giới không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm với vai trò là người thực hành. Do đó, việc quy định không đề cập đến chủ thể không đồng nghĩa với việc chủ thể của tội phạm là bất kỳ ai mà không xem xét đến các yếu tố xung quanh.
- Thứ hai, về nguyên tắc, Điều 91 Bộ luật Hình sự 2015 đã quy định rõ “việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải căn cứ vào độ tuổi, khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi”. Như vậy, nếu tình tiết tăng nặng được quy định tại Điểm o Khoản 1 Điều 52 cũng được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là vi phạm nguyên tắc trên vì không đảm bảo được lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi phạm tội. Bên cạnh đó, theo Khoản 3 Điều 416 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, quy định một trong những vấn đề cần xác định khi tiến hành tố tụng đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi là “có hay không có người đủ 18 tuổi trở lên xúi giục”. Quy định này không quy định “có hay không có người khác xúi giục” mà quy định rõ, đối tượng thực hiện hành vi xúi giục phải là người “từ đủ 18 tuổi trở lên”. Từ đó, có thể thấy, tình tiết tăng nặng “xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” chỉ có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo từ đủ 18 tuổi trở lên mà không phải bất kỳ chủ thể nào như cách hiểu và áp dụng của vị đại diện Viện Kiểm sát.
- Thứ ba, thời gian vừa qua Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã trình và đang thảo luận về Dự thảo Nghị quyết hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Điều 51 và Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Theo đó, trên cơ sở tiểu mục 10 Thông báo giải đáp vướng mắc nghiệp vụ Toà án quân sự tại Hội nghị tổng kết năm 2011 của Toà án quân sự Trung ương. Khoản 14 Điều 3 Dự thảo Nghị quyết đã hướng dẫn “Tình tiết xúi giục người chưa thành niên phạm tội” quy định tại Điểm o Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự chỉ áp dụng khi có hai điều kiện: a) Bị cáo là người đã thành niên và b) Bị cáo biết rõ người bị xúi giục là người chưa thành niên”. Như vậy, mặc dù Nghị quyết này chưa có hiệu lực nhưng cũng đã cho chúng ta thấy được tinh thần của quy định, định hướng áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm o Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự chi áp dụng đối với người đã đủ 18 tuổi. Từ các căn cứ trên, chúng tôi kính đề nghị không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” quy định tại Điểm o Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 đối với 02 bị cáo là L, H vì thời điểm thực hiện hành vi cả 02 bị cáo đều chưa đủ 18 tuổi.
Ngoài ra Luật sư nêu ra một số tính tiết về nhân thân, nguyên nhân và điều kiện dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo L và H bao gồm: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay luôn luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội đã gây ra cho các bị hại. Các bị cáo L, Nhựt H có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu. Các bị cáo L, Nhựt H và gia đình đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại cho các bị hại, nên được các bị hại bãi nại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Bị cáo L và H khi thực hiện hành vi phạm tội mới trên 16 tuổi, nên khả năng nhận thức còn hạn chế. Quá trình tại ngoại các bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật Nhà nước và các quy định tại địa phương nơi cư trú, tích cực và có ý thức học tập như bị cáo L hiện là sinh viên Trường Cao đẳng Bạch Khoa Sài Gòn; bị cáo H là sinh viên trường Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh
Ngoài ra bị cáo L có ông, bà nội là người có công cách mạng, cụ thể ông nội của bị cáo L - ông Đặng Văn Hè là liệt sĩ được tặng Bằng Tổ quốc ghi công trong công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Bà nội của bị cáo L là bà Lâm Thị Ngòi được Chủ tịch nước tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Bà cố ngoại của bị cáo L là Bà Trần Thị Liên được tỉnh uỷ Bình Dương tặng H hiệu 60 năm tuổi Đảng đợt 19/5/2022 (Theo Quyết định số 356 – QĐ/TU ngày 22/4/2022). Ông cố ngoại của bị cáo L là liệt sĩ Trần Minh Tư đại đội trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam. Ngoài ra, mẹ ruột của bị cáo L là bà Trần Thị Thu được Giám đốc Sở Y tế TP.HCM tặng giấy khen vì đã có thành tích xuất sắc trong công tác phòng chống dịch Covid-19 tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Đối với bị cáo H, thì em ruột của ông ngoại bị cáo là liệt sĩ Nguyễn Phi Hùng, được tặng Huân chương kháng chiến hạng 3 đã có công lao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Trên cơ sở đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 54; Điều 90, 91, 101; Điều 65 Bộ Luật hình sự tuyên bị cáo mức án thấp nhất khung hình phạt theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự, tạo điều kiện cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo tiếp tục học tập.
+ Tại phiên tòa trợ giúp viên pháp lý Nguyễn Thị Quỳnh Như bào chữa chỉ định cho bị cáo L và bị cáo H trình bày bài bào chữa như sau: Trợ giúp viên pháp lý Nguyễn Thị Quỳnh Như đồng ý với lời trình bày bào chữa của Luật sư Trương Anh Tú và Trương Ngọc Liêu bào chữa cho hai bị cáo L và bị cáo H và cùng thống nhất tội danh, điều luật truy tố và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo L và bị cáo H mà Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thành Thạnh đã đề nghị với các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu. Các bị cáo L và bị cáo H khi phạm tội còn là học sinh THPT lớp 11, mới trên 16 tuổi nên khả năng nhận thức còn hạn chế. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các nguyên tắc xử lý với người chưa thành niên để tạo điều kiện cho các bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách phù hợp với từng bị cáo. Trên cơ sở đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 54; Điều 90, 91, 101; Điều 65 Bộ Luật hình sự tuyên bị cáo mức án thấp nhất khung hình phạt, tạo điều kiện cho bị cáo được hưởng án treo để các bị cáo tiếp tục con đường học tập, còn nhiều tương lai phía trước.
+ Tại phiên Tòa Trợ giúp viên pháp lý bà Phan Thị Ngọc Thanh bào chữa chỉ định cho bị cáo Trương Bảo L trình bày lời bào chữa như sau: Luật sư thống nhất tội danh, điều luật truy tố và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Trương Bảo L mà Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thành Thạnh đã đề nghị. Ngoài ra Luật sư nêu ra một số tính tiết về nhân thân, nguyên nhân và điều kiện dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo Trương Bảo L. Bị cáo Trương Bảo L trong suốt quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay luôn luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội đã gây ra cho bị hại. Bị cáo và gia đình đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại cho các bị hại, nên được các bị hại bãi nại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Bị cáo Trương Bảo L có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự phạm tội lần đầu, gia đình bị cáo thuộc thành phần nghèo, bị cáo hiện nay đang là sinh viên Trường Trung cấp Việt Giao. Khi phạm tội bị cáo mới vừa qua 16 tuổi 2 tháng, tuổi nhận thức pháp luật còn hạn chế. Quá trình tại ngoại bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật Nhà nước và các quy định tại địa phương nơi cư trú, tích cực và có ý thức học tập. Gia đình bị cáo có công với cách mạng, bị cáo có cậu ruột được tặng H chương kháng chiến hạng nhì; có em ruột ông nội Liệt sĩ được Tổ quốc ghi công. Trên cơ sở đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 90, 91, 101; Điều 65 Bộ Luật hình sự tuyên bị cáo mức án thấp nhất Viện kiểm sát đề nghị, tạo điều kiện cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo tiếp tục học tập.
+ Tại phiên Tòa Luật sư Trịnh Công Minh bào chữa chỉ định cho các bị cáo TH và N trình bày lời bào chữa như sau: Luật sư thống nhất tội danh, điều luật truy tố và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo TH và N mà Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thành Thạnh đã đề nghị. Ngoài ra Luật sư nêu ra một số tính tiết về nhân thân, nguyên nhân và điều kiện dẫn đến hành vi phạm tội của các bị cáo TH và N như sau: Các bị cáo TH và N trong suốt quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay luôn luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội đã gây ra cho các bị hại. Bị cáo Thịnh, Nguyên có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự phạm tội lần đầu. Các bị cáo và gia đình đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại cho các bị hại, nên được các bị hại bãi nại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
Bị cáo TH và N khi thực hiện hành vi phạm tội chưa đủ 18 tuổi, nên khả năng nhận thức còn hạn chế, các bị cáo phạm tội do bị rủ rê lôi kéo, gia đình các bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Quá trình tại ngoại bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật Nhà nước và các quy định tại địa phương nơi cư trú, tích cực và có ý thức học tập như bị cáo Thịnh tiếp tục theo học THPT tư thục Hoàng Văn Thụ để hoàn thành học lớp 12 và vào đại học, bị cáo Nguyên hiện là sinh viên trường cao đẳng Lý Tự Trọng. Các bị cáo tham TH và N tham gia giúp sức các bị cáo khác với vai trò đồng phạm không lớn, bộc phát nhất thời. Trên cơ sở đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, h, s khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 54; Điều 90, 91, 101; Điều 65 Bộ Luật hình sự tuyên bị cáo mức án thấp nhất khung hình phạt, tạo điều kiện cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo tiếp tục học tập.
+ Tại phiên Tòa Luật sư Huỳnh Khắc Thuận bào chữa chỉ định cho các bị cáo Đỗ Đức H và bị cáo T trình bày lời bào chữa như sau: Luật sư thống nhất tội danh, điều luật truy tố và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo Đỗ Đức H và bị cáo T mà Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thành Thạnh đã đề nghị. Ngoài ra Luật sư nêu ra một số tính tiết về nhân thân, nguyên nhân và điều kiện dẫn đến hành vi phạm tội của các Đỗ Đức H và bị cáo T như sau:
Các bị cáo Đỗ Đức H và bị cáo T quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay luôn luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội đã gây ra cho các bị hại. Các bị cáo H, Tấn có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự phạm tội lần đầu. Các bị cáo H, Tấn và gia đình đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại cho các bị hại, nên được các bị hại bãi nại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
Bị cáo Đỗ Đức H và bị cáo T khi thực hiện hành vi phạm tội mới trên 16 tuổi, nên khả năng nhận thức còn hạn chế, các bị cáo phạm tội do bị rủ rê lôi kéo. Quá trình tại ngoại bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật Nhà nước và các quy định tại địa phương nơi cư trú, tích cực và có ý thức học tập như bị cáo H hiện là sinh viên trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Tấn hiện là sinh viên trường Đại học Quốc Tế, Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Các bị cáo tham gia giúp sức các bị cáo khác với vai trò đồng phạm không lớn, bộc phát nhất thời. Gia đình bị cáo Đỗ Đức H có công với cách mạng có ông cố ngoại là Liệt sĩ được Tổ Quốc ghi công. Trên cơ sở đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 54; Điều 90, 91, 101; Điều 65 Bộ Luật hình sự tuyên bị cáo mức án thấp nhất khung hình phạt, tạo điều kiện cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo tiếp tục học tập.
+ Luật sư Nguyễn Tấn Đạt - Là luật sư thuộc Công ty Luật TNHH Clinic Leal – Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh xin vắng mặt và gửi bài chữa chỉ định cho các bị hại em H và em Cao L H trình bày tranh luận như sau: Luật sư thống nhất tội danh, điều luật truy tố các bị cáo L, H, Trương Bảo L, TH, N, Đỗ Đức H và T đã gây ra thương tích cho các bị hại là em H và em Cao L H.
Phát sinh từ mâu thuẫn trong việc đá bóng chung với nhau từ trước, các bị cáo đã không kiềm chế được nên đã cố ý dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho các bị hại em H với tỷ lệ thương tật 1% và Cao L H với tỷ lệ thương tật là 24% nên việc truy tố các bị cáo là đúng người đúng tội danh. Tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử cũng xem xét sau khi gây ra thương tích các bị cáo và gia đình có xin lỗi các bị hại và gia đình các bị hại, đã tự nguyện bồi thường tiền thuốc men, điều trị bệnh đầy đủ, nên các bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm về trách nhiệm dân sự. Các bị hại và gia đình bị hại đã có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo, do các bị cáo còn nhỏ tuổi, nông nổi, tức thời, tại thời điểm phạm tội còn là học sinh trong độ tuổi ăn học còn tương lai phía trước. Do đó, Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định.
+ Đại diện hợp pháp của các bị cáo L, H, Trương Bảo L, TH, N, Đỗ Đức H và T cũng như các bị cáo cùng thống nhất lời luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng và cùng thống nhất với lời bào chữa của các Luật sư bào chữa chỉ định cho các bị cáo; cùng thống nhất với lời bào chữa của các Trợ giúp viên pháp lý cho các bị cáo; cùng thống nhất với lời bào chữa của Luật sư bào chữa cho các bị cáo. Đại diện hợp pháp của các bị cáo và các bị cáo không trình bày tranh luận gì thêm và cùng đề nghị, kính mong Hội đồng xét xử xem xét các bị cáo còn nhỏ tuổi, trong độ tuổi ăn học, tuổi mới lớn chưa trưởng thành, chưa đủ khả năng nhận thức, cho bị cáo cơ hội để làm lại cuộc đời, cho bị cáo hưởng án treo để bị cáo tiếp tục cuộc sống bình thường ngoài xã hội và tiếp tục con đường học vấn.
Kiểm sát viên tranh luận đối đáp với phần tranh luận của Luật sư bào bào chữa cho các bị cáo L và H về việc đề nghị không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” quy định tại Điểm o Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 đối với 02 bị cáo là L, H là không phù hợp bởi lẽ, pháp luật hiện nay chưa có quy định người xúi dục phải là người từ đủ 18 tuổi. Do đó Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo như đã trình bày.
Luật sư bào bào chữa cho các bị cáo L và H giữ nguyên ý kiến, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, không có ý kiến nào khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Bình Thạnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, các bị cáo L, H, Trương Bảo L, TH, N, Đỗ Đức H và T khai nhận quá trình điều tra tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Bình Thạnh, các bị cáo hoàn toàn tự nguyện khai báo, không bị ép buộc, mớm cung, dùng nhục hình hoặc các thù đoạn khác để các bị cáo phải khai trái ý muốn của mình. Quá trình lấy lời khai đều có sự tham gia của đại diện hợp pháp hoặc luật sư bào chữa chỉ định cho các bị cáo. Như vậy lời khai nhận về hành vi phạm tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay giống như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, lời khai người làm chứng, lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản hỏi cung bị can, kết luận giám định, biên bản thu giữ vật chứng, cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Các bị cáo và các bị hại đều là các học sinh đang theo học tại các trường THPT trên địa bàn quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, nên thường lập các nhóm riêng để chia đội và tham gia đá bóng chung với nhau tại sân bóng TBG số 407/19 Nguyễn Xí, phường 13, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 07/12/2022 nhóm của L đá bóng với nhóm của Thanh Phúc và bạn của Thanh Phúc. Hai đội thỏa thuận đội thua sẽ trả tiền 6/10 tiền sân, đội thắng sẽ trả 4/10 tiền sân. Từ đó dẫn đến hai đội và các cầu thủ tham gia đá bóng quyết liệt hơn, có sự va chạm nhau trên sân, xảy ra mâu thuẫn do hai bên cho rằng bên kia đá xấu, nên có sự hiềm khích bực tức qua lại với nhau. Trận đấu bóng đá này đội của L thắng.
Ngày 09/12/2022 Quang Anh có gửi lên nhóm chát chung đá bóng một hình ảnh chụp màn hình có nội dung là một người nào đó nhắn tin cho Thanh Phúc có nội dung “Có chém không tao binh cho”, Phúc trả lời “Bên tao đông”. Thấy vậy, L nhắn tin lại trên nhóm “Cứ đá có xích mích thì nhắn tin”.
Ngày 11/12/2022 các đội hẹn nhau tiếp tục đá bóng chung và thỏa thuận đội nào thua sẽ trả tiền sân và mua 01 lốc nước uống. Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 11/12/2024 hai đội gặp nhau đá bóng như đã thỏa thuận, trận đá bóng ngày L không tham gia do bận nhưng có nghe Quang Anh gửi tin lên nhóm chát chung “Tụi nó có đồ” thì bị L có hỏi ‘Nó đông không”, thì Quang Anh nhắn tin trả lời “Tụi nó đông và nghĩ có đồ trong cốp”. Nghe nói vậy nên L bực tức rủ Đỗ Đức H, H, Mạc Hữu Tài, Đỗ Anh Quân, Trương Bảo L và T chuẩn bị hung khí để đánh nhóm bên kia có H và Cao L H bên kia thì cả nhóm đồng ý. Đỗ Đức H chở theo 01 bao dựng hung khi bên trong có 05 cây mã tấu và 01 tuýp sắt mà nhóm đã hùn tiền mua trên mạng trước đó. Khi cả nhóm đi đến đường Nguyễn Xí , phường 13, quận Bình Thạnh tại đây Đỗ Đức H lấy bao mã tấu từ trên xe bỏ xuống đất thì L, Trương Bảo L, T, Mạc Hữu Tài, Đỗ Anh Quân mỗi người cầm 01 cây, Đỗ Viết Thiện cầm cây tuýp sắt. Khi các bị cáo đi đến gần sân và đứng ngoài chờ khoảng 5 đến 10 phút thì thấy 02 người đi xe Novo chạy ra thì Hoàng L nói “Nó kìa” lúc này N chở Trương Bảo L và Mạc Hữu Tài chặn đầu, còn H chở T chặn phía sau. Đỗ Viết Thiện chở Nguyễn Quốc H tông vào xe của 02 bị hại làm bị hại H và Cao L H té ngã. L chạy đến chém 01 nhát trúng vào hông người ngồi sau, Trương Bảo L chém trúng tay của người lái xe, T chém trúng ngực một người, các bị cáo còn lại quây quanh các bị hại.
Sau khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo cùng chở nhau bỏ chạy về quán ca phê Thiên Sinh tại Chung cư Nguyễn Thiện Thuật, quận 3, tại đây các bị cáo bỏ hung khí vào bao và cất giấu tại lùm cây của quán sau đó các bị cáo về nhà. Đối với các bị hại H và Cao L H được đưa đi bệnh viện điều trị vết thương.
Căn cứ bản kết luận giám định thương tích số: 163/TgT.23 ngày 21/3/2023 của Trung tâm Pháp y – Sở y tế Thành phố Hồ Chí Minh xác định thương tích của H như sau: Theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần: Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 01% (Một phần trăm). Kết luận khác: “Vết thương do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc tác động gây ra, không nguy hiểm đến tính mạng”.
Căn cứ bản kết luận giám định thương tích số 83/TgT.23 ngày 20/2/2023 của Trung tâm Pháp y – Sở y tế Thành phố Hồ Chí Minh xác định thương tích của Cao L H như sau: Theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần: Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 24% (Hai mươi bốn phần trăm). Kết luận khác: “Vết thương do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc tác động gây ra, không nguy hiểm đến tính mạng”.
Từ những hành vi và chứng cứ nêu trên, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo L, H, Trương Bảo L, TH, N, Đỗ Đức H và T đã cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản đ Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 nên Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.
Các bị cáo L, H, Trương Bảo L, TH, N, Đỗ Đức H và T là công dân đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình. Nhưng các bị cáo đã tỏ ra liều lĩnh, coi thường sức khoẻ, tính mạng của người khác, chỉ vì mâu thuẫn, thắng thu, va chạm trong quá trình đá bóng chung với nhau, dẫn đến bực thức nên các các bị cáo L, H, Trương Bảo L, TH, N, Đỗ Đức H và T đã chuẩn bị hung khí là dao và tuýp sắt đón đánh gây thương tích cho các bị hại là các em H và Cao L H. Các bị cáo L, H, Trương Bảo L, TH, N, Đỗ Đức H và T được xác định là sử dụng hung khí nguy hiểm thuộc tình tiết định khung được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ Luật hình sự. Theo kết luận thương tích đối với các em H với tỷ lệ thương tật 1% và Cao L H với tỷ lệ thương tật là 24% thuộc trường hợp tình tiết định khung tăng nặng tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Các bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, việc bắt giữ được các bị cáo nằm ngoài ý thức chủ quan của các bị cáo, tội phạm đã hoàn thành.
Các bị cáo và bị hại quen biết nhau và thường chia đội chơi bóng đá với nhau. Trong vụ án này, nguyên nhân vì mâu thuẫn trước đó trong việc thắng thua đá bóng, bên trả tiền ít, bên trả tiền nhiều dẫn đến hai bên đá bóng va chạm nhau và rất quyết liệt. Từ đó các bên bực tức, mâu thuẫn nhau từ trước, nên các bị cáo không kiềm chế được bản thân, cảm xúc tuổi mời lớn, đã có hành vi cùng nhau gây thương tích cho các bị hại em H và Cao L H. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét, hành vi phạm tội của các bị cáo không có tính chất côn đồ, là theo quy định của pháp luật.
Hành vi của các bị cáo L, H, Trương Bảo L, TH, N, Đỗ Đức H và T là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ ngoài ra còn gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Tính mạng, sức khỏe của con người là tài sản vô giá được pháp luật bảo vệ, vì vậy pháp luật nghiêm cấm việc xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của bất kỳ ai. Những người có hành vi xâm hại đến sức khỏe, tính mạng của người khác thì tuỳ theo tính chất, mức độ đều phải bị xử lý theo pháp luật. Xét tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng một mức án nghiêm khắc đối với bị cáo nhằm giáo dục bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội. Ngoài ra nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay.
Hành vi phạm tội của bị cáo là đồng phạm: Trong vụ án này, chỉ vì mâu thuẩn trong việc thắng thua đá bóng các bị cáo không kiềm chế được cảm xúc đã cùng nhau gây thương tích cho các bị hại em H và Cao L H. Trong đó vai trò chính trong vụ án là bị cáo L và bị cáo H, hai bị cáo này là người đã khởi xướng rủ rê các bị cáo khác cùng tham gia thực hiện gây thương thích cho các bị hại. Các bị cáo còn lại với vài trò là người thực hành, giúp sức, hỗ trợ về mặt ý chí, tinh thần cho các bị cáo khác trực tiếp gây thương tích cho các bị hại. Tuy nhiên Hội đồng xét xử xét thấy trong vụ án này các L, H, Trương Bảo L, TH, N, Đỗ Đức H và T khi thực hiện hành vi phạm tội do bộc phát, nhất thời, chưa có sự phân công nhiệm vụ, vai trò cụ thể, chưa cấu kết chặt chẽ với nhau. Do đó hành vi phạm tội của bị cáo là đồng phạm mang tính giản đơn. Vì vậy, căn cứ vào từng hành vi, tính chất, mức độ tham gia của bị cáo, nhân thân của bị cáo, để Hội đồng xét xử phân hóa trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo Đặng Thanh L và H: Bị cáo Đặng Thanh L và H là người trực tiếp rủ rê các bị cáo khác phạm tội khi các bị cáo khác dưới 18 tuổi. Hiện nay, tại Điều 90 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định người chưa thành niên phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của chương này, theo quy định khác của phần thứ nhất của Bộ luật này không trái với quy định của chương này. Trong chương XII “những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội” không có quy định nào loại trừ việc áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự , trong đó có tình tiết “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” theo điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; không có quy định nào người xúi giục phải là người thành niên. Nên cần áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” đối với các bị cáo Đặng Thanh L và H được quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Do đó, như đã phân tích ở trên [11], Hội đồng xét xử không có cơ sở để chấp nhận ý kiến tranh luận của Luật sư bào chữa cho các bị cáo Đặng Thanh L và H về việc đề nghị không áp dụng tình tiết “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” theo điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với hai bị cáo Đặng Thanh L và H.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Các bị cáo Trương Bảo L, TH, N, Đỗ Đức H và T: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo L, H, Trương Bảo L, TH, N, Đỗ Đức H và T có thái độ thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, lần đầu tiên phạm tội. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội gia đình của các bị cáo cùng nhau đến thăm hỏi động viên bồi thường tiền thuốc men, chi phí điều trị cho gia đình các bị hại cụ thể bồi thường cho bị hại Cao L H là 100.000.000 đồng và cho bị hại H 50.000.000 đồng. Các bị cáo sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã thành khẩn nhận lỗi, xin lỗi các bị hại nên bị hại và đại diện hợp pháp cho các bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo, do các bị cáo còn nhỏ tuổi, nông nổi, tức thời, tại thời điểm phạm tội còn là học sinh trong độ tuổi ăn học còn tương lai phía trước còn nhiều. Bị hại và đại diện hợp pháp cho các bị hại không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì thêm về trách nhiệm dân sự. Ngoài ra Hội đồng xét xử con xem xét thâm các tình tiết về nhân thân các bị cáo như sau:
Đối với bị cáo L có mẹ là bà Trần Thị Thu được Giám đốc Sở y tế Thành phố Hồ Chí Minh tặng giấy khen vì có thành tích xuất sắc, trong công tác phòng chống dịch Covid-19. Quá trình học tập bị cáo nhận được nhiều giấy khen của trường THPT, hiện bị cáo là sinh viên Trường cao đẳng Bạch Khoa Sài Gòn. Gia đình nội, ngoại bị cáo có công cách mạng, cụ thể ông nội của bị cáo L - ông Đặng Văn Hè là liệt sĩ được tặng Bằng Tổ quốc ghi công trong công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Bà nội của bị cáo L là bà Lâm Thị Ngòi được Chủ tịch nước tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Bà cố ngoại của bị cáo L là Bà Trần Thị Liên được tỉnh uỷ Bình Dương tặng H hiệu 60 năm tuổi Đảng đợt 19/5/2022 (Theo Quyết định số 356 – QĐ/TU ngày 22/4/2022). Ông cố ngoại của bị cáo L là liệt sĩ Trần Minh Tư đại đội trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.
Đối với bị cáo H hiện là hiện là sinh viên Trường Đại học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình học tập bị cáo nhận được nhiều giấy khen của trường THPT. Gia đình bị cáo có công cách mạng, cụ thể em ruột của ông ngoại bị cáo là liệt sĩ Nguyễn Phi Hùng, được tặng Huân chương khángchiến hạng3, Huân chươngkháng chiến hạng nhì, đã có công lao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Đối với bị cáo Trương Bảo L hiện là sinh viên Trường Trung cấp Việt Giao. Gia đình bị cáo có công cách mạng, cụ thể có cậu ruột được tặng H chương kháng chiến hạng nhì, có em ruột ông nội Tổ Quốc ghi công là Liệt sĩ Trần Hồng Nhật.
Đối với bị cáo TH theo học lại, hiện là học sinh trường THPT Tư thục Hoàng Văn Thụ.
Đối với bị cáo N hiện là sinh viên Trường Cao đẳng Lý Tự Trọng.
Đối với bị cáo Đỗ Đức H hiện là sinh viên trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh. Gia đình bị cáo có công cách mạng, cụ thể ông cố ngoại được Tổ Quốc ghi công Liệt sĩ Đỗ Tiến Lâm.
Đối với bị cáo T hiện là sinh viên trường Đại học Quốc tế, Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình học tập bị cáo nhận được nhiều giấy khen của trường THPT.
Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo nêu trên kết hợp với chính sách khoan hồng của pháp luật, nhằm giáo dục là chính để giảm nhẹ cho các bị cáo L, H, Trương Bảo L, TH, N, Đỗ Đức H và T một phần hình phạt được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Các bị cáo L, H, Trương Bảo L, TH, N, Đỗ Đức H và T khi phạm tội còn trong độ tuổi vị thành niên, từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, nên Hội đồng xét xử áp dụng thêm các Điều 90, 91 và Điều 101 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để quyết định hình phạt với các bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.
Xét về nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội, tại khoản 6 Điều 91 Bộ luật Hình sự 2015 quy định: “Tòa án chỉ áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khi xét thấy các hình phạt và biện pháp giáo dục khác không có tác dụng răn đe, phòng ngừa. Khi xử phạt tù có thời hạn, tòa án cho người dưới 18 tuổi phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đủ 18 tuổi trở lên phạm tội tương ứng và với thời hạn thích hợp ngắn nhất”. Đồng thời, Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội. Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải căn cứ vào độ tuổi, khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm. Đây là vụ án có đông bị cáo tham gia, tuy nhiên các bị cáo đều có vai trò giản đơn, không có dấu hiệu tổ chức. Để phân hóa hành vi phạm tội của các bị cáo, cần xem xét về nhân thân của các bị cáo cũng như độ tuổi của các bị cáo tại thời điểm phạm tội để áp dụng mức hình phạt phù hợp, đảm bảo giá trị giáo dục và răn đe phòng ngừa chung, đáp ứng tinh thần tại dự thảo Luật Tư pháp người chưa thành niên: ...quan điểm, mục đích xử lý cần cHển từ thiên về trừng phạt sang thiên về giáo dục, cảm hóa; cHển từ việc áp dụng và thi hành các chế tài thiên về cách ly khỏi xã hội (giam giữ tại các trại cải tạo) sang áp dụng nhiều hơn các chế tài giáo dục tại cộng đồng, trong xã hội; tăng cường áp dụng các biện pháp giáo dục, cải tạo nhằm tăng tính tự giác, tự nguyện thay cho các biện pháp giáo dục, cải tạo có tính cưỡng bức. Mục đích của việc làm đó là để người chưa thành niên phạm tội tự giác, tự nguyện nhận thức được sai trái của hành vi để tiến bộ hơn... nhằm hướng tới giảm tỷ lệ tái phạm của người chưa thành niên, tiết kiệm chi phí cho Nhà nước, xã hội và gia đình; đề cao vai trò hòa giải của cộng đồng; phục hồi nhân cách của con người một cách hòa bình, hạn chế những biện pháp trừng phạt; đề cao tính nhân văn. Ưu tiên áp dụng biện pháp cHển hướng trong xử lý người chưa thành niên phạm tội”.
Xét các nguyên tắc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội như đã nêu trên và xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo nêu trên kết hợp với chính sách khoan hồng của pháp luật, nhằm giáo dục là chính. Các bị cáo hiện nay đa phần là sinh viên đang theo học tại các trường Đại học, Cao đẳng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, có em đang tiếp tục theo học lại THPT có kết quả học tập tốt, cần thiết phải tạo điều kiện cho các bị cáo tiếp tục học tập để phát triển tốt về thể chất, tinh thân để trở thành công dân tốt có tích cho gia đình và xã hội.
Xét thấy, quá trình điều tra các bị cáo đều đã bị tạm giam và sau đó thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, quá trình được tại ngoại điều tra các bị cáo luôn chấp hành tốt các quy định của địa phương, chính sách pháp luật của Nhà nước, không có vi phạm pháp luật nào khác, các bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, các bị cáo đã thật sự ăn năn hối cải, đã nhận thức được việc làm của mình là sai trái và vi phạm pháp luật và cam kết sẽ không bao giờ tái phạm. Xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo L, H, Trương Bảo L, TH, N, Đỗ Đức H và T ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mà các bị cáo có khả năng tự cải tạo, việc cho bị cáo hưởng án treo không nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên cho các bị cáo L, H, Trương Bảo L, TH, N, Đỗ Đức H và T hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách với các bị cáo cũng có tác dụng cải tạo, giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung trong hội. Ngoài ra cũng tạo điều kiện cho cho các bị cáo ở ngoài tiếp tục con đường học tập cho tương lai phía trước.
Đối với các đối tượng Mạc Hữu Tài, Đỗ Anh Quân, Võ Văn Giàu cố ý gây thương tích cho H và Cao L H nhưng Tài, Quân, Giàu tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về hành vi này cùng các bị can (dưới 16 tuổi) do đó không đủ cơ sở để xử lý hình sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 91 Bộ luật hình sự.
Đối với Bùi Xuân Vinh không tham gia bàn bạc, không chuẩn bị hung khí cùng nhóm của L, khi sự việc xảy ra Vinh bỏ đi không tham gia đánh bị hại do đó không có cơ sở để xử lý Bùi Xuân Vinh theo quy định.
Đối với Nguyễn Hoàng L khai, có chỉ điểm các bị hại cho L khi mới ra khỏi sân bóng, nhưng Nguyễn Hoàng L khai không biết việc L hỏi nhằm mục đích, không biết việc sẽ đánh nhau và gây thương tích cho các bị hại. Giữa L và Nguyễn Hoàng L không tham gia bàn bạc, không thỏa thuận gì. Khi sự việc xảy ra Nguyễn Hoàng L bỏ đi về không tham gia đánh bị hại, và không biết việc các bị cáo đán bị hại. Hiện tại Nguyễn Hoàng L và gia đình đã thay đổi nơi cư trú, đi đâu không rỏ. Nên không có cơ sở xem xét, xử lý Nguyễn Hoàng L theo quy định.
Đối với Đặng Phạm Quang Anh, L khai sau sự việc đã xóa tin nhắn (BL: 423, 424), Đặng Phạm Quang Anh cũng không thừa nhận biết việc L rủ rê bàn bạc đi đánh nhau (BL: 157 – 159), không tham gia bàn bạc, không thỏa thuận gì. Khi sự việc xảy ra không có mặt nên chưa có cơ sở để xử lý theo quy định.
Đối với các đối tượng Đỗ Viết Thiện, Nguyễn Quốc H, Minh Tú là các đối tượng chưa rõ nhân thân lai lịch, Cơ quan điều tra Công an quận Bình Thạnh tiếp tục điều tra, xác minh, khi nào làm rõ được thì sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
Về xử lý vật chứng:
- 01 bao có chữ Shimano bên trong có 05 cây dao tự chế: Là vật chứng của vụ án không có giá trị sử dụng, do đó Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy theo quy định.
- 01 tuýp sắt không thu giữ được. Là vật chứng của vụ án, không thu giữ được, do đó Hội đồng xét xử không xét.
- 01 điện thoại di động Iphone 11 pro max là tài sản cá nhân của L. Cơ quan điều tra đã trả lại cho L là đúng quy định, do đó Hội đồng xét xử không xét.
Về trách nhiệm dân sự:
Đại diện gia đình của các bị cáo đã tự nguyện bồi thường tiền thuốc men, chi phí điều trị và trách nhiệm dân sự khác cho bị hại Cao L H là 100.000.000 đồng và bồi thường trách nhiệm dân sự cho bị hại H 50.000.000 đồng. Ngoài ra bị hại và đại diện hợp pháp cho các bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo, do các bị cáo còn nhỏ tuổi, nông nổi, tức thời, tại thời điểm phạm tội còn là học sinh trong độ tuổi ăn học còn tương lai phía trước. Các bị hại không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm về trách nhiệm dân sự, do đó Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại các Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm o khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 101; Điều 50; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án ngày 23/9/2024.
Giao bị cáo L cho Ủy ban nhân dân phường 3, quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo L cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt với bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
2. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm o khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 101; Điều 50; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo H 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án ngày 23/9/2024.
Giao bị cáo H cho Ủy ban nhân dân phường Phạm Ngũ Lão, quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo H cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt với bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
3. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 101; Điều 50; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017
Xử phạt bị cáo Đỗ Đức H 01 (một) năm 06 (sáu) tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án ngày 23/9/2024.
Giao bị cáo Đỗ Đức H cho Ủy ban nhân dân phường Bình Trưng Đông, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Đỗ Đức H cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt với bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
4. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 101; Điều 50; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017
Xử phạt bị cáo Trương Bảo L 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án ngày 23/9/2024.
Giao bị cáo Trương Bảo L cho Ủy ban nhân dân phường 01, quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Trương Bảo L cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt với bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
5. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 101; Điều 50; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017
Xử phạt bị cáo TH 01 (một) năm 06 (sáu) tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án ngày 23/9/2024.
Giao bị cáo TH cho Ủy ban nhân dân phường 26, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo TH cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt với bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
6. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 101; Điều 50; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017
7. Xử phạt bị cáo N 01 (một) năm 06 (sáu) tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án ngày 23/9/2024.
Giao bị cáo N cho Ủy ban nhân dân phường 02, quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo N cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt với bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
8. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 101; Điều 50; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017
Xử phạt bị cáo T 02 (hai) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án ngày 23/9/2024.
Giao bị cáo T cho Ủy ban nhân dân phường 14, quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo T cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt với bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
8. Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
8.1. Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 bao có chữ Shimano bên trong có 05 cây dao tự chế
(Theo biên bản giao nhận vật chứng lúc 15 giờ 00 phút, ngày 09/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh).
9. Căn cứ các Điều 135; 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
9.1. Về án phí: Mỗi Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
9.2. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, đại diện hợp pháp và Luật sư bào chữa chỉ định cho các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, đại diện hợp pháp cho bị hại và Luật sư bào chữa chỉ định cho các bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
(Đã giải thích chế định án treo cho các bị cáo).
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND TP.Hồ Chí Minh; - VKSND, CA quận Bình Thạnh; - Chi cục THA Dân sự Q.BT; - THA HS; - PC.27 Công an Tp.HCM; - Trại giam; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Thức |