vanban.org

Bản án 206/2024/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau Tuyên án 06/09/2024 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn P. Buộc ông Lê Phát T1 có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn P số tiền 22.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các kh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản giữa ông Nguyễn Văn P với ông Lê Phát T1"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn P. Buộc ông Lê Phát T1 có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn P số tiền 22.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 206/2024/DS-ST
Ngày 06-9-2024
V/v tranh chấp hợp đồng mua bán
tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Triều. Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Minh Trọn.

Bà Đoàn Thị Sim.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Bảo Trân là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

Ngày 06 tháng 9 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 301/2024/TLST-DS ngày 25 tháng 6 năm 2024 về việc “tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 303/2024/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1962.

Đia chỉ cư trú: Khóm A, thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Cẩm T, sinh năm 1988, trú tại Khóm A, thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau là người đại diện theo uỷ quyền (văn bản ngày 19 tháng 6 năm 2024) (xin vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Lê Phát T1, sinh năm 1974 (vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 18 tháng 6 năm 2024 và bản tự khai ngày 05 tháng 9 năm 2024 nguyên đơn ông Nguyễn Văn P trình bày: Từ năm 2019 ông có đầu tư thuốc và thức ăn nuôi tôm cho ông Lê Phát T1, đến ngày 18 tháng 02 năm 2020 hai bên chốt nợ ông T1 còn nợ ông số tiền 15.577.000 đồng (mười lăm triệu năm trăm bảy mươi bảy ngàn đồng). Ông đã nhiều lần yêu cầu ông T1 trả tiền cho ông nhưng ông T1 không trả. Ông yêu cầu Toà án giải quyết buộc ông T1 trả cho ông số tiền 15.577.000 đồng và lãi suất theo quy định của pháp luật.

-1-

- Bị đơn ông Lê Phát T1 đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng nhưng ông T1 vắng mặt không lý do và không cung cấp lời khai, chứng cứ về việc khởi kiện của ông Nguyễn Văn P.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Ông Nguyễn Văn P khởi kiện yêu cầu ông Lê Phát T1 trả tiền mua thức ăn, thuốc nuôi tôm. Do đó, đây là tranh chấp dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.

Về sự vắng mặt của đương sự: Bà Nguyễn Cẩm T là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bà Nguyễn Cẩm T. Ông Lê Phát T1 là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông Lê Phát T1.

Ông Nguyễn Văn P cho rằng ông Lê Phát T1 có mua thuốc và thức ăn nuôi tôm của ông P, đến ngày 18 tháng 02 năm 2020 hai bên xác nhận công nợ ông Lê Phát T1 còn nợ ông P số tiền 15.577.000 đồng. Đối với ông Lê Phát T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng để hòa giải và xét xử nhưng ông T1 vắng mặt không cung cấp lời khai cho Tòa án và không có ý kiến đối với yêu cầu của ông P. Theo bản xác nhận công nợ ngày 18 tháng 02 năm 2020 do ông P cung cấp có chữ ký của ông Lê Phát T1 thể hiện ông T1 có nợ ông P số tiền 15.577.000 đồng nên ông P yêu cầu ông T1 trả số tiền 15.577.000 đồng là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với yêu cầu trả lãi chậm thực hiện nghĩa vụ: Ông P yêu cầu ông T1 trả lãi suất do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền là phù hợp với quy định tại Điều 357 của Bộ luật dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Do các bên không có thỏa thuận về lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ nên lãi suất được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự, lãi suất là 10%/năm, lãi tháng là 0,833%, lãi ngày là 0,027%. Theo bản xác nhận công nợ ngày 18 tháng 02 năm 2020 ông Lê Phát T1 cam kết trả tiền cho ông P trong thời hạn 03 tháng nên thời hạn tính lãi từ ngày 18 tháng 5 năm 2020 đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 06 tháng 9 năm 2024 là 04 năm 03 tháng 18 ngày, tiền lãi sẽ là (15.577.000 đồng x 04 năm x 10%) + (15.577.000 đồng x 03 tháng x 0,833%) + (15.577.000 đồng x 18 ngày x 0,027%) = 6.695.773 đồng. Tổng gốc và lãi là 22.272.773 đồng.

Về án phí: Do yêu cầu của ông Nguyễn Văn P được chấp nhận nên ông P không phải chịu án phí (ông P được miễn dự nộp án phí). Ông Lê Phát T1 có nghĩa vụ nộp án phí dân sự sơ thẩm là 1.113.638 đồng.

Vì các lẽ trên,

-2-

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 357; Điều 430; Điều 440 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn P. Buộc ông Lê Phát T1 có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn P số tiền 22.272.773 đồng đồng (hai mươi hai triệu hai trăm bảy mươi hai ngàn bảy trăm bảy mươi ba đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

2. Về án phí:

Buộc ông Lê Phát T1 phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 1.113.638 đồng (một triệu một trăm mười ba ngàn sáu trăm ba mươi tám đồng), nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Án xử sơ thẩm, các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ