- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Thu Tr phạm tội "Tham ô tài sản" - phạm tội tham ô tài sản (điều 353 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu Tr phạm tội " Tham ô tài sản ".
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 48 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 206/2023/HS-ST Ngày 18 tháng 12 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN PHONG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Chu Minh Nam.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Hồng Vinh.
2. Bà Nguyễn Thị Thiệp.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Trí Tuấn – Thư ký, Toà án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong tham gia phiên toà:
Bà Trần Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 18 tháng 12 năm 2023. Tại TAND, huyện Yên Phong xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 209/2023/TLST-HS, ngày 29 tháng 11 năm 2023. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 191/2023/QĐXXST-HS, ngày 06 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Thu Tr, sinh năm 1990; HKTT: thôn Tr, xã T, huyện C, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Huy Kh (đã chết); Và bà Vũ Thị Th; Gia đình có 03 chị em, bản thân là thứ nhất; Có chồng là Ngô Mạnh H, sinh năm 1988 (đã ly hôn); Có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2021; Tiền án; Tiền sự: Không.
Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú hiện tại ngoại có mặt tại phiên toà.
Bị hại:
CÔNG TY TNHH AD.
Địa chỉ: Đường YP2-2, Khu Công nghiệp YP, xã Đ, huyện YP, tỉnh Bắc Ninh.
Đại diện theo pháp luật: PARK SUN Y – Chức vụ: Giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Ph, sinh 1994 (xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau.
Từ ngày 01/02/2023, Nguyễn Thị Thu Tr sinh ngày 28/5/1990, hộ khẩu thường trú (HKTT): Thôn Tràng Kỹ, xã Tân Trường, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, được Giám đốc Công ty TNHH AD (Công ty) có trụ sở tại đường YP2-2, khu công nghiệp Yên Phong, xã Đông Phong, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh ký hợp đồng lao động chính thức, thời hạn 01 năm từ ngày 01/02/2023 đến ngày 01/02/2024, với chức danh chuyên môn là nhân viên phiên dịch, công việc phải làm theo quy định của Công ty cho từng chức danh chuyên môn. Theo đó, công việc chính của Tr tại Công ty là làm phiên dịch cho Giám đốc và làm công tác nhân sự tại Văn phòng Công ty. Cụ thể công tác nhân sự là chấm công cho nhân viên, tính toán lương cho nhân viên hàng tháng, làm công tác tính bảo hiểm phải đóng cho nhân viên hàng tháng, là người chịu trách nhiệm thanh toán các khoản tiền hàng tháng cho Công ty (gồm lương, bảo hiểm, thuế, tiền thuê nhà, tiền thuê xe, tiền mua nguyên vật liệu phục vụ sản xuất), quản lý quỹ tiền mặt của Công ty, làm các giấy tờ liên quan đến người nước ngoài tạm trú tại Việt Nam, làm giấy tờ thay đổi tên Giám đốc Công ty, làm giấy tờ thay đổi tên Công ty.
Năm 2019 - 2021, Tr có kinh doanh mỹ phẩm tại thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Do kinh doanh thua lỗ nên Tr đã vay tiền trên các áp cho vay tiền trên mạng xã hội và sau đó không có khả năng trả tiền vay. Do bị các áp cho vay tiền đe dọa, đòi tiền nhiều lần nhưng không có tiền trả nên Tr nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của Công ty để lấy tiền trả cho các khoản vay trên áp. Sau đó, Tr đã tiến hành lấy tiền của Công ty với cách thức như sau: Căn cứ mức lương của nhân viên phải đóng bảo hiểm và số người phải đóng bảo hiểm hàng tháng tại Công ty, Tr tính toán số tiền bảo hiểm phải đóng cho mỗi nhân viên và cộng lại thành tổng tiền phải đóng. Tiếp đó, Tr làm đề xuất thanh toán tiền trên phần mềm riêng của Công ty, Tr lấy tên người đề xuất là “Ko Ha Young” (do thời điểm đó Công ty quy định là lấy tên người Việt theo tiếng Hàn Quốc để ghi trong các đề xuất), trong đề xuất có số tiền cụ thể phải thanh toán cho Bảo hiểm xã hội huyện Yên Phong. Sau khi làm xong đề xuất, Tr chuyển đề xuất đến cho Giám đốc Công ty qua phần mềm để Giám đốc duyệt trên phần mềm. Sau khi Giám đốc Công ty duyệt trên phần mềm số tiền bảo hiểm xã hội phải thanh toán thì Tr tiến hành soạn thảo nội dung chuyển số tiền được duyệt bằng dịch vụ Internet Banhking trên số tài khoản của Công ty tại Ngân hàng Shinhan Bank để Ngân hàng thực hiện việc chuyển số tiền Tr đã được Giám đốc Công ty duyệt đến số tài khoản nhận tiền do Tr đưa ra để sau đó các người được Tr nhờ chuyển tiền đến tài khoản của họ lại chuyển tiền qua tài khoản của Tr để trả lại cho Tr số tiền đó và sau đó Tr chiếm đoạt của Công ty số tiền đó.
Bằng cách thức như trên, trong các tháng từ tháng 02/2023 đến tháng 7/2023, Tr đã làm 06 đề xuất và được Giám đốc KIMKIY và Giám đốc PARK SUN Y duyệt chuyển các khoản tiền đóng bảo hiểm xã hội như sau:
Ngày 06/02/2023, Tr được duyệt chuyển số tiền 13.285.000 đồng từ tài khoản của Công ty tại Ngân hàng Shinhan Bank đến tài khoản của Nguyễn Thị Thùy L, số tài khoản 19030352271011 tại ngân hàng TechcomBank.
Ngày 24/3/2023, Tr được duyệt chuyển số tiền 25.900.000 đồng từ tài khoản của Công ty tại Ngân hàng Shinhan Bank đến tài khoản của Bảo hiểm xã hội huyện Yên Phong.
Ngày 19/4/2023, Tr được duyệt chuyển số tiền 33.900.000 đồng từ tài khoản của Công ty tại Ngân hàng Shinhan Bank đến tài khoản của Nguyễn Thị Ng, số tài khoản 19033706721017 tại ngân hàng TechcomBank.
Ngày 17/5/2023, Tr được duyệt chuyển số tiền 32.620.000 đồng từ tài khoản của Công ty tại Ngân hàng Shinhan Bank đến tài khoản của Nguyễn Thị Thùy L, số tài khoản 19030352271011 tại ngân hàng TechcomBank.
Ngày 19/6/2023, Tr được duyệt chuyển số tiền 61.100.000 đồng từ tài khoản của Công ty tại Ngân hàng Shinhan Bank đến tài khoản của Nguyễn Thị Thùy L, số tài khoản 19030352271011 tại ngân hàng TechcomBank.
Ngày 01/7/2023, Tr được duyệt chuyển số tiền 50.880.000 đồng từ tài khoản của Công ty tại Ngân hàng Shinhan Bank đến tài khoản của Tr, số tài khoản 700004506392 tại ngân hàng Shinhan Bank.
Tổng số tiền bảo hiểm xã hội Tr đề xuất Công ty và được ngân hàng chuyển trong 06 lần là 217.685.000 đồng. Trong đó, Tr chỉ chuyển khoản nộp cho Bảo hiểm xã hội huyện Yên Phong 02 lần tổng số tiền là 70.900.000 đồng (vào các ngày 24/3/2023 là 25.900.000 đồng và ngày 19/6/2023 là 45.000.000 đồng). Số tiền còn lại là 146.785.000 đồng, Tr chiếm đoạt của Công ty để giải quyết việc cá nhân.
Bằng hình thức đề xuất như thanh toán tiền bảo hiểm xã hội, ngày 19/7/2023 Tr được ngân hàng chuyển khoản số tiền thuê xe ô tô tháng 7/2023 của Công ty là 19.800.000 đồng đến số tài khoản của Nguyễn Tuấn A tại ngân hàng TechcomBank để sau đó Tr chiếm đoạt số tiền này.
Cuối tháng 6/2023, Tr được chị Nguyễn Thị Th là chủ căn hộ cho Công ty TNHH AD thuê trả lại số tiền đặt cọc thuê nhà là 15.000.000 đồng. Tr đã chuyển vào tài khoản của Công ty trả số tiền 8.000.000 đồng, số tiền 7.000.000 đồng còn lại Tr hứa chuyển trả Công ty tuy nhiên sau đó cũng chiếm đoạt, không trả lại Công ty.
Đến thời điểm ngày 24/7/2023, Tr quản lý quỹ tiền mặt của Công ty thì còn số tiền tồn quỹ là 10.602.000 đồng, Tr không để tiền trong két tại Công ty mà cất giữ theo người nên từ cuối tháng 7/2023 khi Tr nghỉ việc tại Công ty thì Tr chiếm đoạt số tiền 10.602.000 đồng, không trả lại Công ty.
Ngày 10/8/2023, Giám đốc Công ty có quyết định cho Tr nghỉ việc. Ngày 14/8/2023, Giám đốc Công ty có đơn tố cáo Nguyễn Thị Thu Tr tham ô của Công ty tổng số tiền là 184.187.000 đồng gồm tiền đóng bảo hiểm xã hội, tiền đặt cọc thuê nhà, tiền thuê xe ô tô tháng 7/2023 và tiền mặt tại quỹ của Công ty. Ngày 19/8/2023 Tr có gặp Giám đốc Công ty tại Công ty và xin hoàn trả dần toàn bộ số tiền trên nhưng Giám đốc Công ty không đồng ý vì Công ty đã gửi đơn tố cáo đến cơ quan Công an đề nghị xử lý vụ việc theo quy định của pháp luật và yêu cầu Tr hoàn trả toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt của Công ty.
Hiện nay, Công ty còn nợ lương tháng 7/2023 của Tr với số tiền là 21.387.375 đồng. Tr chưa trả được cho Công ty số tiền nào trong tổng số tiền đã chiếm đoạt là 184.187.000 đồng.
Với nội dung trên tại bản cáo trạng số 211 ngày 28 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong đã truy tố Nguyễn Thị Thu Tr về tội " Tham ô tài sản " theo điểm c, d khoản 2 Điều 353 BLHS.
Tại phiên toà hôm nay bị cáo Nguyễn Thị Thu Tr khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội “ Tham ô tài sản” là đúng.
Trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong thực hành quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích đánh giá chứng cứ, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra cho xã hội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã kết luận về vụ án và giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị HĐXX.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu Tr phạm tội “ Tham ô tài sản”.
Áp dụng điểm c, d khoản 2 Điều 353, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS xử phạt.
Nguyễn Thị Thu Tr từ 09 năm đến 09 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 BLHS; Điều 584, 589 BLDS.
Buộc bị cáo phải bồi thường cho Công ty TNHH PAMTEK VN số tiền là 184.187.000 đồng.
Lưu theo hồ sơ vụ án 02 đĩa DVD.
Bị cáo nhận tội, không có ý kiến gì với phần kết luận và không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau.
[ 1 ] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Phong, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Phong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[ 2 ] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Thị Thu Tr đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo là phù hợp với không gian, thời gian, đơn trình báo và lời trình bày của bị hại, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ được công khai và tranh tụng tại phiên tòa thấy đã có đủ cơ sở để kết luận: Nguyễn Thị Thu Tr là nhân viên phiên dịch và làm công tác nhân sự của Công ty TNHH AD (Công ty TNHH PAMTEK VN), có trụ sở tại đường YP2-2, khu công nghiệp Yên Phong, thuộc xã Đông Phong, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Quá trình làm việc, Tr được Công ty giao nhiệm vụ chấm công cho nhân viên, tính toán lương hàng tháng, làm công tác tính bảo hiểm phải đóng cho nhân viên hàng tháng, là người chịu trách nhiệm thanh toán các khoản tiền hàng tháng cho Công ty (gồm lương, bảo hiểm, thuế, tiền thuê nhà, tiền thuê xe, tiền mua nguyên vật liệu phục vụ sản xuất), quản lý quỹ tiền mặt của Công ty, làm các giấy tờ liên quan đến người nước ngoài tạm trú tại Việt Nam, làm giấy tờ thay đổi tên Giám đốc Công ty, làm giấy tờ thay đổi tên Công ty. Lợi dụng quyền hạn quản lý của mình, từ tháng 02/2023 đến tháng 7/2023, Tr đã 06 lần chiếm đoạt 146.785.000 đồng trong số tiền Công ty chuyển cho Tr đóng Bảo hiểm xã hội. Ngày 19/7/2023 Tr chiếm đoạt 19.800.000 đồng tiền thuê xe ô tô tháng 7/2023 của Công ty. Cuối tháng 6/2023, Tr chiếm đoạt 7.000.000 đồng từ tiền chị Nguyễn Thị Th trả lại tiền số tiền đặt cọc thuê nhà của Công ty. Ngày 24/7/2023, Tr đã chiếm đoạt 10.602.000 đồng trong quỹ tiền mặt của Công ty. Tổng số tiền Tr chiếm đoạt của Công ty là 184.187.000 đồng. Số tiền trên Tr đã chi tiêu cá nhân hết hiện chưa trả lại cho Công ty. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Tham ô tài sản ” tội phạm được quy định tại Điều 353 BLHS đúng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
[ 3 ] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp tới quyền sở hữu hợp pháp về tài sản được pháp luật bảo vệ. Hành vi phạm tội của bị cáo chẳng những gây thiệt hại về vật chất cho Công ty TNHH PAMTEK VN mà còn gây mất trật tự trị an ở địa phương, tạo tâm lý e ngại cho các nhà đầu tư đã và đang có ý định đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp. Xét thấy cần xử lý nghiêm các bị cáo theo quy định của Bộ luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[ 4 ] Xét nhân thân và thái độ của các bị cáo HĐXX nhận thấy. Bị cáo xuất thân từ gia đình con em lao động, có nhân thân tốt. Bị cáo là người có chức vụ, quyền hạn theo hợp đồng với Công ty TNHH PAMTEK VN. Quá trình làm việc, bị cáo đã lợi dụng quyền hạn quản lý của mình để nhiều lần chiếm đoạt của Công ty TNHH PAMTEK VN tổng số tiền là 184.187.000 đồng. Đây là các tình tiết định khung được quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 353 BLHS. Bản cáo trạng của Viện kiểm kiểm sát truy tố bị cáo về tội “ Tham ô tài sản” theo điểm c, d khoản 2 Điều 353 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Xét thấy cần có một mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích gia đình và xã hội. Song khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt vì xét thấy sau khi phạm tội tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay đã có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải.
[ 5 ] Về trách nhiệm dân sự: Đại diện bị hại là Công ty TNHH PAMTEK VN có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Theo đơn đề nghị và trình bày của bị hại trong khoảng thời gian từ tháng 02/2023 đến tháng 07/2023 Công ty đã bị Nguyễn Thị Thu Tr chiếm đoạt tiền bảo hiểm, tiền thuê xe tháng 7, tiền thuê nhà, tiền quỹ với tổng số tiền là 184.187.000đ. Nay Công ty yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại Công ty toàn bộ số tiền trên. Xét yêu cầu của Công ty TNHH PAMTEK VN là có căn cứ nên cần được chấp nhận để buộc bị cáo phải bồi thường cho Công ty TNHH PAMTEK VN số tiền là 184.187.000đ.
[ 6 ] Liên quan đến vụ án còn có: Chị Nguyễn Thị Thùy L, chị Nguyễn Thị Ng, anh Nguyễn Tuấn A là những người được bị cáo nhờ tài khoản để chuyển tiền từ Công ty Pamtek VN đến. Tuy nhiên cả chị L, chị Ng và anh Tuấn A đều không biết đấy là tiền do bị cáo phạm tội mà có. Ngay sau nhận tiền cả chị L, chị Ngu và anh Tuấn A đã chuyển trả lại số tiền đã nhận vào tài khoản của bị cáo. Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với chị L, chị Ng và anh Tuấn A là đúng quy định pháp luật.
Lưu theo hồ sơ 02 đĩa DVD.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu Tr phạm tội " Tham ô tài sản ".
Áp dụng điểm c, d khoản 2 Điều 353, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 xử phạt.
Nguyễn Thị Thu Tr 08 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 BLHS; Điều 584, 589 BLDS
Buộc bị cáo phải bồi thường cho Công ty TNHH Pamtek VN số tiền là 184.187.000 đồng.
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn đề nghị thi hành án nếu người phải thi hành án không tự giác thi hành thì còn phải chịu lãi suất theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 BLDS năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án lệ phí.
Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST và 9.209.350đ án phí DSST.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả bản án hoặc ngày niêm yết kết quả bản án.
Trường hợp phần trách nhiệm dân sự của bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhân:
| - Toà án tỉnh. - VKS tỉnh. - VKSND huyện Yên Phong. - Các bị cáo. - Người tham gia tố tụng khác. - THA huyện Yên Phong . - Lưu hồ sơ, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Chu Minh Nam |