- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Hoàng Quốc D phạm tội: “Cố ý gây thương tích”. - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 1…"
- Tòa quyết gì? Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134); điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 của Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự̀
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 206/2023/HS-ST Ngày 19 - 9 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Trần Thị Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Lê Như Toản và bà Hồ Thị Lan
- Thư ký phiên tòa: bà Vũ Phương Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố H;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H tham gia phiên tòa: ông Bùi Văn Bằng - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 141/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 165/2023/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2023, quyết định hoãn phiên tòa số 54/2023/HSST-QĐ ngày 05/9/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hoàng Quốc D, sinh ngày 11/12/1995, tại thành phố H; nơi cư trú: tổ 27, khu 3, phường C, thành phố H; nghề nghiệp: công nhân Công ty Cổ phần than L - Vinacomin; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Mạnh H và bà Vũ Thị L; vợ, con: chưa có; tiền án,tiền sự: không; đầu thú ngày 23/02/2023, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa;
* Bị hại: anh Nguyễn Văn X, sinh năm 1988; địa chỉ: thôn 4, xã N, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Đỗ Văn P, sinh năm 1995; địa chỉ: thôn 4, xã N, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
- Anh Đỗ Văn T, sinh năm 1991; địa chỉ: thôn 4, xã N, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt.
* Người làm chứng: các anh: Bùi Duy L, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Văn N, Đặng Mạnh T, Đồng Ngọc A (đều vắng mặt); các anh Nguyễn Mạnh D, Nguyễn Mạnh C (đều có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Mạnh D và anh Bùi Duy L đều làm việc tại Công ty dịch vụ sửa chữa nhiệt điện miền bắc (NPS3) Quảng Ninh, thuộc tổ 33, khu 5, phường K, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Trong quá trình làm việc, anh L và D có xảy ra mâu thuẫn vì anh L cho rằng D nói không tốt về mình với tổ trưởng. Khoảng 17 giờ, ngày 21/02/2023, D hẹn anh L và các anh: Đỗ Văn T, Nguyễn Văn X, Đỗ Văn P, Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Văn N (đều là đồng nghiệp với Nguyễn Mạnh D) đến quán bia của anh Nguyễn Hữu M thuộc thôn Q, xã N, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh để uống bia và nói chuyện hòa giải mâu thuẫn. Tại quán bia, Mạnh D và anh L đã nói chuyện, hòa giải với nhau. Trong lúc mọi người cùng D đang ngồi uống bia thì Nguyễn Mạnh D có gọi điện cho các bạn là: Hoàng Quốc D, Đặng Minh T, Đồng Ngọc A và Nguyễn Mạnh C đến quán bia để cùng D nói chuyện hòa giải và đưa D về. Do Quốc D sợ xảy ra đánh nhau nên mang theo 01 con dao bằng kim loại dài khoảng 40cm, bản rộng khoảng 03cm, lưỡi sắc, mũi nhọn, rồi gài vào xe mô tô. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, Mạnh D đi về rồi gọi điện thoại cho Quốc D, T, Ngọc A và C đến cây xăng ngã tư chân Cầu B đón D. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Mạnh D gặp Quốc D, T, Ngọc A và C tại cây xăng thì Mạnh D nói với tất cả quay lại quán bia nói chuyện với anh L để giải quyết dứt điểm mâu thuẫn trên. Sau đó cả nhóm (5 người) quay lại quán bia. Đến nơi, C và Ngọc A đứng ở ngoài đường, còn Mạnh D, Quốc D và T vào trong quán bia nói chuyện với anh L. Thấy Mạnh D, anh L nói: “Thôi mọi việc xong rồi thì thôi” rồi bắt tay hòa giải với Mạnh D. Lúc này, có 02 nam thanh niên (không rõ lý lịch) ngồi uống bia ở bàn bên cạnh sang mời bia L thì gặp Quốc D, liền nói: “Bọn mày là ai, đến đây làm gì?” và xô đẩy Quốc D ra phía cổng. Trong lúc xô đẩy, thì N cầm 02 vỏ chai bia trên bàn ném ra ngoài đường nhưng không trúng ai. Lúc này, nghĩ là có người định đánh mình, Quốc D liền chạy ra xe mô tô lấy con dao mang theo từ trước. Thấy vậy, anh T, anh P, anh X chạy ra can ngăn Quốc D thì bị Quốc D cầm dao chém một nhát từ trái sang phải trúng lưng anh T, anh P lao đến dùng tay phải cầm vào lưỡi dao thì bị Quốc D kéo mạnh con dao gây thương tích ở bàn tay phải, anh X cũng lao đến can thì bị Quốc D cầm dao chém ngang 01 nhát từ trái sang phải trúng vào vùng bụng bên phải anh X gây thương tích. Sau đó, Quốc D cầm dao chạy ra lấy xe mô tô rồi bỏ đi. Còn các anh X và anh P được đi cấp cứu tại bệnh viện. Đến 21 giờ 30 phút cùng ngày, anh Đỗ Văn T đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H trình báo sự việc Hoàng Quốc D dùng dao chém gây thương tích cho mình và các anh X, anh P.
Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: nơi xảy ra vụ việc tại đoạn đường dân sinh, khu vực trước quán tạp hóa O thuộc thôn Q, xã N, thành phố H, hiện trường không còn nguyên vẹn. Quá trình khám nghiệm thu giữ tại bãi cỏ trước tường bao phía cổng nhà anh Nguyễn Hữu M 01 vỏ chai thủy tinh, màu xanh bị vỡ.
Tại Giấy chứng nhận thương tích ngày 06/3/2023, của Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ninh xác định tình trạng thương tích của anh Nguyễn Văn X lúc vào viện ngày 21/02/2023: vết thương vùng hố chậu phải khoảng 04cm, chảy máu nhiều; phẫu thuật mở bụng thăm dò, lau rửa ổ bụng, đặt dẫn lưu (trong khi mổ quan sát thấy: vết thương vùng hố chậu phải, chảy máu nhiều, khó kiểm soát, vết thương sâu, không kiểm tra được đáy vết thương. Ổ bụng có vết rách nhỏ của phúc mạc tương ứng với diện vết thương, ổ bụng có ít máu đỏ; đứt động mạch thượng vị dưới).
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 179/KLTTCT-TTPY ngày 17/03/2023, của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Quảng Ninh, kết luận: vết thương nằm chéo vùng hố chậu phải thấu bụng, bờ mép sắc gọn, tổn thương như sau: so vết thương kích thước (4,3x0,2)cm, sẹo vết mổ ở đầu trong vết thương kích thước (10x0,2)cm; mổ thăm dò ổ bụng xử lý tổn thương đứt rời động mạch thượng vị dưới; sẹo vết mổ đường trắng giữa trên dưới rốn kích thước (16x0,2)cm, để thăm dò ổ bụng và xử lý đứt động mạch thượng vị dưới; tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn X tại thời điểm giám định là 18% (mười tám phần trăm). Vết thương nêu trên do vật sắc tác động trực tiếp gây lên.
Tại Giấy chứng nhận thương tích ngày 01/3/2023, của Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ninh xác định tình trạng thương tích của anh Đỗ Văn P lúc vào viện ngày 21/02/2023: vết thương ngón IV tay phải dài khoảng 01cm, sắc gọn; vết thương ngón V tay phải dài 02cm, sắc gọn, lộ gân đứt. Chụp Xquang bàn tay không thấy tổn thương xương.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 181/KLTTCT-TTPY ngày 17/03/2023, của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Quảng Ninh, kết luận: sẹo vết thương phần mềm mặt lòng đốt II ngón 4 tay phải, bờ mép sắc gọn, kích thước (1,5x0,2)cm; vết thương phần mềm mặt lòng đốt II-III ngón 5 tay phải, bờ mép sắc gọn, tổn thương như sau: sẹo vết thương và vết mổ về hai phía kích thước (2,5x0,2)cm; đứt gân gấp sâu ngón 5 tay phải đã được khâu nối gân, hiện tại hạn chế vận động, cứng khớp liên đốt II-III ngón 5 tay phải; Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đỗ Văn P tại thời điểm giám định là 03% (ba phần trăm). Các vết thương nêu trên do vật sắc tác động trực tiếp gây lên.
Tại Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể hồi 23 giờ 10 phút ngày 21/02/2023 đối với anh Đỗ Văn T: 01 vết thương dài 19cm, đỏ ửng ở vị trí sau lưng.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 180/KLTTCT-TTPY ngày 17/03/2023, của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Quảng Ninh, kết luận: vết thương thượng bì da từ vùng lưng bên phải sang vùng lưng bên trái, đứt đoạn ở phần cột sống, không khâu, hiện để lại sẹo kích thước (16x0,2) cm, bờ mép sắc gọn; Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đỗ Văn T tại thời điểm giám định là 02% (hai phần trăm). Vết thương nêu trên do vật sắc tác động trực tiếp gây lên.
Ngày 23/02/2023, Hoàng Quốc D đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình như nêu trên. Ngoài ra, Quốc D khai nguồn gốc con dao dùng để chém gây thương tích là do Quốc D lấy ở bếp ăn của gia đình và trong lúc bỏ chạy Quốc D vứt con dao ở lề đường thuộc thôn Q, cách vị trí quán bia khoảng 200m. Nguyên nhân Quốc D gây thương tích cho các anh: X, Phương, Trọng là do trong lúc cùng với Mạnh D vào nói chuyện hòa giải với anh L thì Quốc D xảy ra mâu thuẫn với 02 nam thanh niên không rõ lý lịch. Lúc này có người ném vỏ chai bia ra đường nên Quốc D bực tức và nghĩ bị mọi người trong quán đánh nên đã chạy ra xe mô tô lấy dao. Cùng lúc, anh T, anh P, anh X lao về phía D. Do nghĩ nhóm người trong nhóm 02 thanh niên trên lao đến đánh mình nên Quốc D đã thực hiện hành vi cố ý gây thương tích như nội dung nêu trên. Tuy nhiên, sau đó D biết đã chém nhầm người nên đã bỏ chạy. Đến ngày 20/3/2023, Hoàng Quốc D đã bồi thường cho anh X 27.700.000 đồng; anh P 15.000.000 đồng.
Ngày 23/3/2023, các anh Đỗ Văn T, Nguyễn Văn X và Đỗ Văn P đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H nộp đơn đề nghị rút đơn yêu cầu khởi tố vụ án và xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Hoàng Quốc D.
Về vật chứng vụ án: quá trình khám nghiệm hiện trường, Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 vỏ chai thủy tinh, màu xanh bị vỡ và đã nhập kho vật chứng chờ xử lý. Đối với 03 chiếc đĩa CD ghi lại quá trình thực nghiệm điều tra và ghi hình có âm thanh lời khai nhận của Hoàng Quốc D, Đặng Minh Trường được chuyển theo hồ sơ vụ án. Đối với con dao Hoàng Quốc D sử dụng để gây thương tích, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã ra Quyết định truy tìm nhưng không tìm được.
Về trách nhiệm dân sự: Hoàng Quốc D đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho anh Nguyễn Văn X 27.700.000đ (hai mươi bảy triệu bảy trăm nghìn đồng), bồi thường thiệt hại cho anh Đỗ Văn P 15.000.000đ (Mười năm triệu đồng), anh X và anh P không yêu cầu gì khác. Anh Đỗ Văn T không yêu cầu Hoàng Quốc D phải bồi thường thiệt hại.
Tại bản cáo trạng số 144/CT-VKSHL ngày 20 tháng 7 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H đã truy tố Hoàng Quốc D về tội “Cố ý gây thương tích”, theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134) của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo có lời như nội dung vụ án nêu trên. Ngoài ra, khi thấy các anh: Trọng, Phương, X lao vào bị cáo nhầm tưởng họ là người của nhóm 02 thanh niên lao vào đánh bị cáo nên bị cáo mới gây thương tích cho họ. Khi gây thương tích xong bị cáo mới biết mình chém nhầm và nói “em chém nhầm, em xin lỗi các anh”, rồi bị cáo cầm dao ra xe mô tô bỏ chạy.
- Tại các đơn đề nghị xét xử vắng mặt đều đề ngày 14/9/2023, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng anh Nguyễn Văn N đều trình bày về diễn biến sự việc như lời khai của bị cáo tại phiên tòa.
- Kết thúc phần xét hỏi, Đại diện Viện kiểm rút một phần quyết định truy tố đối với bị cáo về tình tiết “có tính chất côn đồ” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự, với nội dung: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, của anh P và của anh T về diễn biến sự việc. Do đó, đủ cơ sở xác định về mặt ý thức chủ quan bị cáo không muốn gây thương tích cho anh X, anh T, anh P mà nhầm tưởng họ là người trong nhóm 02 thanh niên lạ mặt lao vào đánh bị cáo. Đồng thời, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích”, theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134) của Bộ luật hình sự, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134); điểm s khoan 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều
̉ 65 của Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự̀
;
+ Xử pha ̣t: bị cáo Hoàng Quốc D từ 30 đến 36 tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 60 tháng, kể từ ngày tuyên án;
Giao Hoàng Quốc D cho Ủy ban nhân dân phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Căn cứ khoản 1 điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự, tịch thu, tiêu hủy: 01 vỏ chai thủy tinh màu xanh, bị vỡ.
Bị cáo không tranh luận gì.
Lời nói sau cùng: bị cáo trình bày rất ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Kết thúc phần xét hỏi, Đại diện Viện kiểm rút một phần quyết định truy tố đối với bị cáo về tình tiết “có tính chất côn đồ” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự, với nôi dung như nêu trên. Hội đồng xét xử thấy: việc Viện kiểm sát rút một phần quyết định truy tố đối với bị cáo về tình tiết này là có cơ sở, cần chấp nhận.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi cố ý gây thương tích cho bị hại như nêu trên.
Xét lờ i khai của bị cáo phù hợp với giấy chứng nhận thương tích và các kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống đối với bị hại, anh Đỗ Văn P và anh Đỗ Văn T; phù hợp với vật chứng thu giữ, các tài liệu về hiện trường, biên bản thực nghiệm điều tra và các tài liệu về nhận dạng; phù hợp với lời khai của bị hại, của những người làm chứng và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử thấy đủ căn cứ kết luận: khoảng 20 giờ ngày 21/02/2023, tại khu vực đường dân sinh phía trước quán bia của anh Nguyễn Hữu M, thuộc thôn Q, xã N, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Hoàng Quốc D đã có hành vi dùng 01 con dao bằng kim loại, dài khoảng 40 cm, bản rộng khoảng 03 cm, có một lưỡi sắc và mũi nhọn chém 01 nhát trúng vào vùng hố chậu bên phải của anh Nguyễn Văn X gây thương tích, tổn thương cơ thể 18% (mười tám phần trăm). Ngoài ra, bị cáo còn có hành vi gây thương tích cho anh Đỗ Văn P làm tổn thương cơ thể 03% (ba phần trăm) và gây thương tích cho anh Đỗ Văn T làm tổn thương cơ thể 02% (hai phần trăm), thuộc khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, anh T, anh P đều đã có đơn rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, nên không xem xét trong bản án này.
Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi do lỗi cố ý, xâm phạm đến sức khỏe của người khác.
Do đó, hành vi nêu trên của bị cáo Hoàng Quốc D đã phạm vào tội “cố ý gây thương tích”, quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134) của Bộ luật hình sự, có khung hình phạt tù từ 02 năm đến 06 năm như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H đã nêu và viện dẫn là có căn cứ, đúng người đúng tội.
Điều 134. Bộ luật Hình sự quy định:
‘‘1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người; ...
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:…
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỉ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.”
Mọi người đều có quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe, mọi hành vi xâm phạm đến sức khỏe của người khác là vi phạm pháp luật và phải bị xử lý theo quy định của pháp luật. Mặc dù nhận thức rõ, nhưng do thiếu tu dưỡng rèn luyện đạo đức, lối sống nên bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, coi thường sức khỏe của người khác, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, cần thiết phải xử lý bị cáo nghiêm mới có tác dụng giáo dục và ngăn chặn tội phạm.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: xét thấy sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho người bị hại; người bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Do đó, cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét bị cáo có nhân thân tốt thể hiện việc bị cáo không có tiền án tiền sự; được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có nhiều tình tiết quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo bản thân. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù cách ly ra khỏi xã hội một thời gian, mà cho bị cáo được hưởng án treo dưới sự giám sát của gia đình và địa phương cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích, đồng thời đáp ứng được công tác đấu tranh phòng chống tội phạm; cần hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đã áp dụng đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- 01con dao dài khoảng 40cm, bản rộng 03 cm, mũi dao nhọn bằng kim loại màu sáng trắng, bị cáo khai trên đường đi về bị cáo đã vứt con dao vào lề đường. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã ra quyết định truy tìm vật chứng, nhưng không tìm được, nên không đề cập xử lý.
- 01 vỏ chai thủy tinh màu xanh, bị vỡ, không có giá trị, cần tịch thu tiêu hủy.
Về trách nhiệm dân sự: quá trình điều tra, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho các anh: X, Phương. Đối với anh T không yêu cầu bị cáo phải bồi thường. Nay, bị hại, anh P, anh T đều không yêu cầu bị cáo bồi thường, nên không xét.
Về lờ i luâ ̣n tô ̣i của đại diê ̣n Viê ̣n kiểm sát: xét những chứng cứ mà Kiểm sát viên dùng để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo đã được cơ quan điều tra thu thập theo đúng trình tự, thủ tục mà Bộ luật tố tụng Hình sự quy định; tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận thực hiện hành vi cố ý gây thương tích như bản cáo trạng của Viện kiểm sát. Nên lời buộc tội của Kiểm sát viên về tội danh, khung hình phạt,tinh tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đồ
́i vớ i bi ̣ cáo là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra -Công an thành phố H, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nghia vu ̣ chi ̣u án phi hinh sự sơ thẩm: bi ̣ cáo phải chi ̣u tiền án phi
̃
́ ̀
́ hinh sự sơ thẩm theo quy đi ̣nh của pháp luật. ̀
Về quyền kháng cáo: bi ̣ cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134); điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 của Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự̀
;
Tuyên bố: bị cáo Hoàng Quốc D pha ̣m tô ̣i: “Cố ý gây thương tích”.
Xử pha ̣t: bị cáo Hoàng Quốc D 30 (ba mươi) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án.
Giao Hoàng Quốc D cho Ủy ban nhân dân phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, hủy bỏ “Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú” số 284/2023/HSST- LCCT ngày 05 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố H đối với Hoàng Quốc D.
3. Về xử lý vật chứng: căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy: 01 vỏ chai thủy tinh màu xanh, bị vỡ (theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản số 230/BB-THA ngày 20 tháng 7 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố H).
4. Về án phi: căn cứ khoá
̉n 2 Điều 136 Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng hinh sự̀
; điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghi ̣ quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủ y ban thườ ng vu ̣ quốc hô ̣i về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chi ̣u 200.000 đồng (hai trăm nghin đồ
̀ng) án phi hinh sự sơ thẩm.
́ ̀
5. Về quyền kháng cáo: căn cứ khoản 1, 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng hinh sự̀
; bi ̣ cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tinh Quả ̉ng Ninh; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND TP H; - Cơ quan ĐTCATP H; - Cơ quan THAHS TP H; - Công an TP H; - Chi cục THADS TP H; - Sở tư pháp tỉnh Quảng Ninh - Những ngườ i tham gia tố tu ̣ng; - Lưu HS+THA+VP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thi ̣ Hồng |