vanban.org

Bản án 206/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Long Biên, TP. Hà Nội Tuyên án 21/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình T phạm tội: Trộm cắp tài sản, bị cáo Nguyễn Trọng L phạm tội: Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình T 32 (Ba mươi hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trọng L 24 (Hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình T phạm tội: Trộm cắp tài sản, bị cáo Nguyễn Trọng L phạm tội: Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN N DÂN
QUẬN LONG BIÊN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 206/2022/HS-ST
Ngày: 21-9-2022

N DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN N DÂN QUẬN LONG BIÊN, TP.HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Huyền

Các Hội thẩm N dân: Bà Nguyễn Thị Cúc

Ông Bùi Văn Bình

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan – Thư ký Toà án N dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát N dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Đỗ Hoàng Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án N dân quận Long Biên, Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 169/2022/TLST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 338/2022/QĐXXST-HS ngày 04/8/2022 đối với các bị cáo:

1. NGUYỄN ĐÌNH T – sinh năm: 1983; HKTT: Số 14, ngách 44/58, tổ 20, phường TT, quận Long Biên, thành phố Hà Nội; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lái xe; con ông Nguyễn Đình N (Đã chết) và bà Bùi Thị X; Vợ: Nguyễn Thị Thu H; Có 02 con lớn SN 2013, nhỏ SN 2017; TATS: Theo danh chỉ bản số 57 ngày 12/02/2022 của Công an quận Long Biên lập và lý lịch địa phương cung cấp thì bị cáo không có tiền án, tiền sự.

Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 10/01/2022, tạm giam từ ngày 16/01/2022 đến ngày 06/5/2022 Hủy bỏ tạm giam, áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt)

2. NGUYỄN TRỌNG L – sinh năm: 1992; HKTT: Số 29, ngõ 29 CHM, tổ 5, phường PĐ, quận Long Biên, thành phố Hà Nội; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; nghề nghiệp: Kinh doanh mua bán điện thoại; con ông Nguyễn Trọng L và bà Nguyễn Thị V; Vợ: Đặng Thị H; Có 02 con lớn SN 2014, nhỏ SN 2016; TATS: Theo danh chỉ bản số 58 ngày 12/02/2022 của Công an quận Long Biên lập và lý lịch địa phương cung cấp thì bị cáo không có tiền án, tiền sự.

Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 10/01/2022, tạm giam từ ngày 16/01/2022 đến ngày 06/5/2022 Hủy bỏ tạm giam, áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt)

- Bị hại: Công ty cổ phần GHN Logistics Trụ sở: Số 405/15 XVNT, phường 24, quận Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Ông Mai H – Tổng giám đốc. Người đại diện theo uỷ quyền: Anh Nguyễn Đức C - SN: 1990 Trú tại: Số 24, ngõ 109 CV, thị trấn TQ, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội. (Theo Giấy uỷ quyền số 197 ngày 19/10/2021) (Có đơn xin vắng mặt)

- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Chị Âu Thị N, sinh năm 1977 HKTT: Khu phố YB, thị trấn BG, huyện BG, tỉnh Lạng Sơn. Hiện ở: Ngõ 129 phố MP, phường PĐ, quận Long Biên, thành phố Hà Nội.

+ Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1978 HKTT: Số 22B, phố ĐG, tổ 9, phường ĐG, quận Long Biên, thành phố Hà Nội. Hiện đang chấp hành án tại: Trại giam số 2 VH, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội.

+ Chị Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1990 HKTT: Tổ 2, phường PL, quận Long Biên, thành phố Hà Nội.

+ Anh Nguyễn Thế T, sinh năm 1987 Địa chỉ: Số nhà 45, thôn 84, xã Thế T, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội.

+ Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1993 HKTT: Khu 2, xã TĐ, huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ. Hiện ở: Ngõ 702, đường PD, tổ 1, phường XP, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội

+ Anh Hoàng Trung T, sinh năm 1983 HKTT: Đội 5, xã TX, huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội. Hiện ở: Số 11, tổ 11, phường PĐ, quận Long Biên, thành phố Hà Nội

+ Chị Hoàng Vũ Xuân L, sinh năm 1987 HKTT: Số 377 ĐBP, phường BH, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương. Hiện ở: 1b/69/481 NL, quận Long Biên, thành phố Hà Nội.

+ Chị Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1989 HKTT: Thôn Đ, xã HS, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.

+ Anh Tạ Hữu N, sinh năm 1992 HKTT: Khu 10, xã BS, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ.

+ Anh Nguyễn Cao C, sinh năm 1988 HKTT: Phường ĐK, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.

+ Chị Đoàn Thuý H, sinh năm 1987 HKTT: Số 12, ngõ 61 TĐT, phường Quốc Tử Giám, quận Đống Đa, TP Hà Nội.

+ Công ty TNHH thương mại TCC HH Trụ sở: Số 101 LTN, phường ĐT, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.

+ Anh Lê Đức T, sinh năm 1992 HKTT: Số 4, PBC4, phường TS, thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá. Hiện ở: Số 54 TĐN, phường DV, quận Cầu Giấy, TP Hà Nội. (Tất cả đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 21/10/2021, Phòng PC02 Công an thành phố Hà Nội nhận được đơn trình báo của anh Nguyễn Đức C là đại diện theo ủy quyền của Công ty Dịch vụ Giao hàng nhanh, trụ sở: 405/15 XVNT, phường 24, quận Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh, tố cáo: Nguyễn Đình T là N viên lái xe tải của công ty có hành vi trộm cắp một số tài sản hàng hóa của Công ty Dịch vụ Giao hàng nhanh.

Ngày 10/01/2022, Nguyễn Đình T đến Cơ quan điều tra đầu thú về hành vi trộm cắp tài sản và khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Quá trình điều tra xác định:

Từ ngày 19/01/2021 đến ngày 24/11/2021, Nguyễn Đình T làm N viên lái xe tải cho Công ty Cổ phần Dịch vụ Giao hàng nhanh - chi nhánh Hà Nội, địa chỉ: Khu công nghiệp Đài Tư, phường PL, quận Long Biên, Hà Nội. T được giao nhiệm vụ điều khiển xe ôtô tải BKS: 50H - 04572 để luân chuyển hàng hóa giữa các kho hàng nội bộ của công ty Giao hàng nhanh. Trong quá trình làm việc, các N viên Bưu cục xếp các đơn hàng lên thùng xe rồi đóng niêm phong thùng xe nhưng chỉ niêm phong một cánh bên phải, không niêm phong cánh bên trái và T không phải ký giao nhận hàng với N viên công ty nên T đã nảy sinh ý định trộm cắp các gói hàng. Quá trình vận chuyển hàng, T dừng xe tại khu vực vắng người, dùng tuốc nơ vít đã chuẩn bị sẵn vặn mở ốc của cửa bên trái không bị niêm phong của thùng sau xe ôtô tải rồi lấy trộm tài sản. Bằng thủ đoạn trên, T đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể:

Ngày 25/4/2021, T được giao vận chuyển hàng từ bưu cục số 23 DVN, phường Trung Tự, quận Đống Đa, TP Hà Nội đến kho hàng tại khu công nghiệp Đài Tư, PL, Long Biên, Hà Nội. Khi đi đến khu vực vắng người trên đường Đàm Q Trung thuộc phường PĐ, quận Long Biên, Hà Nội thì T dừng xe, mở thùng sau xe ôtô tải trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme 6 màu trắng (máy còn nguyên hộp) và 01 tai nghe không dây nhãn hiệu Earbuds (còn nguyên hộp) và cất giấu ở phía dưới ghế lái. Sau khi trả hàng tại kho hàng ở khu công nghiệp Đài Tư, T mang tài sản trộm cắp được đến cửa hàng số 29 CHM, phường PĐ, Long Biên, Hà Nội của Nguyễn Trọng L nói muốn bán chiếc điện thoại di động và tai nghe trên, L đồng ý mua điện thoại với giá 2.500.000 đồng và tai nghe không dây với giá 200.000 đồng. Khi bán tài sản trên T có nói với L đây là tài sản do T trộm cắp được của công ty nhưng L vẫn mua. Sau đó L có bày bán chiếc điện thoại và chiếc tai nghe tại cửa hàng. L đã bán chiếc điện thoại trên cho chị Nguyễn Thị Đ với giá 3.000.000 đồng, chiếc tai nghe không dây L không nhớ là đã bán cho ai và bán với giá 250.000 đồng. Chị Đ đã giao nộp lại chiếc điện thoại cho Cơ quan điều tra và không có yêu cầu gì về dân sự.

Tại Kết luận định giá tài sản số 503 ngày 21/12/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS quận Nam Từ Liêm kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme 6, số IMEI: 862486045416797 trị giá 4.500.000 đồng.

Tại Kết luận định giá tài sản số 55 ngày 13/4/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS quận Long Biên kết luận: 01 tai nghe không dây EARBUDS SOUNDPEATS TRUE CAPSULE SMART, màu đen mới chưa qua sử dụng trị giá 450.000 đồng.

Tài liệu điều tra thể hiện: Chiếc điện thoại Realme 6 và tai nghe không dây nhãn hiệu Earbuds trên là của Công ty TNHH thương mại tổ hợp HTV (CellphoneS), địa chỉ: Số 543 đường NT, phường Thanh Xuân Nam, Thanh Xuân, Hà Nội, gửi Công ty giao hàng nhanh vận chuyển cho khách hàng. Sau đó Công ty CellphoneS đã được Công ty giao hàng nhanh bồi thường giá trị tài sản nên không có yêu cầu gì, quyền tài sản thuộc về Công ty giao hàng nhanh.

Quá trình điều tra xác định chị Nguyễn Thị Đ khi mua điện thoại không biết là do trộm cắp mà có nên cơ quan điều tra không xem xét xử lý.

Ngày 29/4/2021, T được giao vận chuyển hàng từ bưu cục số 23 DVN, phường Phương Liên, Đống Đa, Hà Nội đến kho hàng tại khu công nghiệp Đài Tư, phường PL, Long Biên, Hà Nội. Khi đi đến khu vực vắng người trên đường Đàm Q Trung, PĐ, Long Biên, Hà Nội thì T dừng xe, mở cửa thùng sau xe ôtô tải rồi lấy trộm 01 Ipad Pro (máy còn nguyên hộp) và 02 chiếc điện thoại di động gồm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi màu tím; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Star 5 màu đen rồi cất giấu ở phía dưới ghế lái. Sau khi trả hàng tại kho hàng ở khu công nghiệp Đài Tư, T mang tài sản trên đến cửa hàng của Nguyễn Trọng L hỏi bán 01 Ipad và 02 chiếc điện thoại di động trên, L đồng ý mua với tổng giá tiền là 13.500.000 triệu đồng (trong đó chiếc Ipad Pro có giá 10.000.000 đồng, điện thoại Xiaomi Redmi 9 có giá 2.000.000 đồng và chiếc Vsmart Star 5 có giá 1.500.000 đồng). Sau đó L đã bán chiếc điện thoại Vsmart Star 5 cho chị Âu Thị N với giá 2.000.000 đồng, hưởng lợi 500.000 đồng. Chị N đã giao nộp lại chiếc điện thoại cho cơ quan điều tra.

Ngoài ra L không nhớ đã bán chiếc Ipad và chiếc điện thoại Xiaomi Redmi 9 cho ai và chỉ nhớ bán được chiếc Ipad với giá 11.000.000 đồng và chiếc điện thoại Xiaomi Redmi 9 với giá 2.300.000 đồng, hưởng lợi 1.300.000 đồng.

Quá trình điều tra xác định: chị Nguyễn Thị Kim H đang sử dụng chiếc điện thoại Xiaomi Redmi 9 trên. Chị H mua điện thoại tại cửa hàng điện thoại số 68 HHT, Yên Viên, Gia Lâm, Hà Nội của anh Hoàng Trung T với giá 2.700.000 đồng. Tại Cơ quan điều tra anh T khai báo chiếc điện thoại Xiaomi Redmi 9 bán cho chị H là điện thoại mà anh T mua của người khách hàng, anh T không nhớ và cũng không biết là ai, anh T mua với giá 2.500.000 đồng. Anh T không biết chiếc điện thoại là tài sản trộm cắp, khi mua anh T kiểm tra điện thoại thì thấy điện thoại không để mật khẩu. Chị H đã giao nộp lại chiếc điện thoại cho Cơ quan điều tra và không có yêu cầu gì về dân sự.

Cơ quan điều tra đã thu hồi được chiếc điện thoại Vsmart Star 5 và chiếc điện thoại Xiaomi Redmi 9 màu tím.

Tại Kết luận định giá tài sản số 503 ngày 21/12/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS quận Nam Từ Liêm kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart Star 5, số IMEI: 358877980779150 trị giá 1.500.000 đồng.

Tại Kết luận định giá tài sản số 39 ngày 08/2/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS quận Nam Từ Liêm kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi 9 trị giá 2.300.000 đồng.

Tại Kết luận định giá tài sản số 55 đề ngày 13/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS quận Long Biên kết luận: 01 Apple Ipad Pro 11 2020 4G-128GB Màu xám, máy mới chưa qua sử dụng trị giá 23.500.000 đồng.

Tài liệu điều tra thể hiện: Chiếc điện thoại di động Vsmart Star 5, chiếc điện thoại Xiaomi Redmi 9 và chiếc Ipad Pro trên là của Công ty TNHH thương mại tổ hợp HTV (CellphoneS) gửi Công ty giao hàng nhanh vận chuyển cho khách hàng. Sau đó Công ty CellphoneS đã được Công ty giao hàng nhanh bồi thường giá trị tài sản nên không có yêu cầu gì, quyền tài sản thuộc về Công ty giao hàng nhanh.

Quá trình điều tra xác định khi mua điện thoại chị Âu Thị N không biết là do trộm cắp mà có nên cơ quan điều tra không xem xét xử lý.

Về dân sự: Nguyễn Đình T đã bồi thường dân sự cho chị Âu Thị N 2.000.000 đồng là số tiền chị N bỏ ra mua chiếc điện thoại trên, chị N không yêu cầu đề nghị gì về dân sự.

Ngày 10/5/2021, T được giao vận chuyển hàng từ bưu cục số 23 DVN, Phương Liên, Đống Đa, Hà Nội đến kho hàng tại khu công nghiệp Đài Tư, PL, Long Biên, Hà Nội. Khi đi đến khu vực vắng người trên đường Đàm Q Trung thuộc phường PĐ, Long Biên, Hà Nội thì T dừng xe, mở cửa thùng sau xe ôtô tải trộm cắp 01 điện thoại di động Xiaomi Redmi Note 10 màu xanh (máy còn nguyên hộp) và cất giấu ở phía dưới ghế lái. Sau khi trả hàng tại kho hàng ở khu công nghiệp Đài Tư, T điều khiển xe ôtô đến cửa hàng điện thoại 29 CHM của Nguyễn Trọng L bán chiếc điện thoại trên cho L với giá 2.000.000 đồng. L không nhớ đã bán chiếc điện thoại trên cho ai và L bán được với giá 3.000.000 đồng, hưởng lợi 1.000.000 đồng.

Quá trình điều tra xác định: Anh Nguyễn Văn V đang sử dụng chiếc điện thoại Xiaomi Redmi Note 10. Anh V mua chiếc điện thoại tại cửa hàng điện thoại số 193 PD, Nam Từ Liêm, Hà Nội của Tạ Hữu N (sinh năm: 1992, HKTT: Hương Nha, Tam Nông, Phú Thọ (nay là xã BS, Tam Nông, Phú Thọ) với giá 3.700.000 đồng. Cơ quan điều tra đã đến công an phường Phú Diễn để xác minh, kết quả: Tạ Hữu N có mở cửa hàng bán điện thoại từ đầu năm 2020 tại địa chỉ 193 PD, Phú Diên, Nam Từ Liêm, Hà Nội, đến tháng 7/2021 N đã chuyển đi không sinh sống, bán hàng tại địa chỉ trên, N đi đâu làm gì công an phường không rõ. Cơ quan điều tra đã tiến hành đến xã BS, Tam Nông, Phú Thọ để tiến hành triệu tập Tạ Hữu N nhưng Tạ Hữu N không sinh sống tại địa phương, đi đâu làm gì chính quyền không nắm được.

Anh Nguyễn Văn V đã giao nộp lại chiếc điện thoại Xiaomi Redmi Note 10 cho Cơ quan điều tra và không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự.

Tại Kết luận định giá tài sản số 503 ngày 21/12/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS quận Nam Từ Liêm kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi Note 10, số IMEI: 869703050443729 trị giá 3.000.000 đồng.

Tài liệu điều tra thể hiện: Chiếc điện thoại di động Xiaomi Redmi Note 10 trên là của Công ty TNHH thương mại tổ hợp HTV (CellphoneS) gửi Công ty giao hàng nhanh vận chuyển cho khách hàng. Sau đó Công ty CellphoneS đã được Công ty giao hàng nhanh bồi thường giá trị tài sản nên không có yêu cầu gì, quyền tài sản thuộc về Công ty giao hàng nhanh.

Ngày 17/5/2021, T được giao vận chuyển hàng từ bưu cục số 23 DVN, phường Phương Liên, Đống Đa, Hà Nội đến kho hàng tại khu công nghiệp Đài Tư, phường PL, Long Biên, Hà Nội. Khi đi đến khu vực vắng người trên đường Đàm Q Trung thuộc phường PĐ, Long Biên, Hà Nội thì T dừng xe, mở cửa thùng sau xe ôtô tải lấy trộm 01 điện thoại di động Apple Iphone X và cất giấu ở phía dưới ghế lái. Sau khi trả hàng tại kho hàng ở khu công nghiệp Đài Tư, T trả xe ôtô cho công ty rồi đi xe máy, mang theo chiếc điện thoại đến uống nước tại một quán trà đá vỉa hè khu vực đường tàu ngã ba ĐG - Ngô Gia Tự, quận Long Biên, TP Hà Nội. Tại đây, T bán chiếc điện thoại trên cho Nguyễn Văn Q (sinh năm: 1978, trú tại: phường ĐG, quận Long Biên TP Hà Nội) với giá 4.000.000 đồng. Sau đó Q đã bán lại cho chị Hoàng Vũ Xuân L (sinh năm: 1978, trú tại: Phường NL, Long Biên, Hà Nội) với giá 4.500.000 đồng. Chị L bán lại chiếc điện thoại cho anh Nguyễn Thế T (sinh năm: 1987, HKTT: Thôn 84, Thế T, Thạch Thất, Hà Nội) với giá 5.500.000 đồng. Anh Toàn đã giao nộp lại chiếc điện thoại cho Cơ quan điều tra.

Tại Kết luận định giá tài sản số 503 ngày 21/12/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS quận Nam Từ Liêm kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone X, số IMEI: 356739085013434 trị giá 6.500.000 đồng.

Tài liệu điều tra thể hiện: Chiếc điện thoại Iphone X trên là của Công ty TNHH thương mại tổ hợp HTV (CellphoneS) gửi Công ty giao hàng nhanh vận chuyển cho khách hàng. Sau đó Công ty CellphoneS đã được Công ty giao hàng nhanh bồi thường giá trị tài sản nên không có yêu cầu gì, quyền tài sản thuộc về Công ty giao hàng nhanh.

Quá trình điều tra xác định anh Nguyễn Văn Q, chị Hoàng Vũ Xuân L và anh Nguyễn Thế T khi mua không biết điện thoại là do trộm cắp mà có nên cơ quan điều tra không xem xét xử lý.

Về dân sự: Nguyễn Đình T đã bồi thường dân sự cho anh Nguyễn Thế T 5.500.000 đồng là số tiền anh Toàn bỏ ra để mua điện thoại, anh Toàn không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự.

Khoảng 10h30’ ngày 31/5/2021, T lái xe ô tô tải BKS: 50H-045.72 của công ty đến bưu cục 253 Phạm Văn Đồng, phường Xuân Đỉnh, Bắc Từ Liêm, Hà Nội để lấy hàng vận chuyển đến kho hàng tại khu công nghiệp Đài Tư, phường PL, Long Biên, Hà Nội. Lợi dụng lúc N viên bưu cục không để ý, T đã lấy một hộp điện thoại cài vào cạp quần phía sau rồi phủ áo phông lên che kín. Khi đi đến khoảng giữa cầu Thăng Long thì T mở kiện hàng này ra kiểm tra phát hiện bên trong là 01 điện thoại OPPO A92. T đã mở chiếc điện thoại lên dùng thử thấy đây không phải điện thoại chính hãng, máy thường xuyên bị đơ, không mở được các ứng dụng nên T đã vứt ở dọc đường đi đoạn từ cầu Thăng Long đến kho của công ty ở Nguyễn Văn L (T không nhớ cụ thể đã vứt ở chỗ nào). Cơ quan điều tra không thu hồi được chiếc điện thoại này.

Tại Kết luận định giá tài sản số 55 đề ngày 13/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS quận Long Biên kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A92, màu đen cũ đã qua sử dụng trị giá 1.800.000 đồng.

Cơ quan CSĐT - Công an quận Long Biên có công văn số 712 ngày 17/3/2022 gửi Cơ quan CSĐT - Công an quận Bắc Từ Liêm để xác định thẩm quyền giải quyết vụ việc. Cơ quan CSĐT - Công an quận Bắc Từ Liêm có công văn phúc đáp số 774 ngày 28/3/2022: xét thấy tội phạm thực hiện tại nhiều nơi khác nhau trên địa bàn thành phố Hà Nội, hiện Cơ quan CSĐT - Công an quận Long Biên đang thụ lý điều tra vụ án, để đảm bảo nguyên tắc cho lợi cho bị cáo đề nghị Cơ quan CSĐT - Công an quận Long Biên tiếp tục điều tra vụ án theo quy định pháp luật.

Tài liệu điều tra thể hiện: Chiếc điện thoại OPPO A92 là của Công ty NKPP HTC Mobile, địa chỉ: 445 Cao Lỗ, Uy Nỗ, Đ Anh, Hà Nội giao cho Công ty giao hàng nhanh vận chuyển cho khách hàng. Sao đó Công ty giao hàng nhanh đã bồi thường giá trị chiếc điện thoại cho Công ty HTC Mobile, quyền tài sản thuộc về Công ty giao hàng nhanh.

Ngày 05/8/2021, T nhận nhiệm vụ chở hàng từ kho hàng tại khu công nghiệp Đài Tư, phường PL, Long Biên, Hà Nội đến bưu cục Hoàng Liệt, Hoàng Mai, Hà Nội và ngược lại. Chuyến đầu tiên T không lấy trộm gì. Chuyến thứ hai, trên đường từ bưu cục về kho, T đã dừng xe ở đoạn đường Cổ L thuộc phường Long Biên, Long Biên, Hà Nội, đi ra mở cửa sau thùng xe và lấy ra hai kiện hàng dạng đóng hộp kích thước lần lượt khoảng 40x20x20cm và 20x10x10cm mang lên cabin. T vừa lái xe vừa bóc hai hộp này ra thấy bên trong là 01 chiếc loa Bluetooth Marshall Emberton và 01 chiếc loa Bluetooth Bose Soundlink Micro. T giấu vào sau ghế lái. Khoảng 17 giờ cùng ngày, T lấy hai chiếc loa này ra rồi đi xe máy đến cửa hàng điện thoại của Nguyễn Trọng L tại 29 CHM bán cho L với giá lần lượt là 2.000.000 đồng và 1.000.000 đồng. Đối với chiếc loa L mua với giá 2.000.000 đồng sau đó L đã bán cho khách hàng không quen với giá 2.300.000 đồng, hưởng lợi 300.000 đồng. Đối với chiếc loa còn lại, L sử dụng một thời gian và bán cho khách không quen biết sau đó với giá 500.000 đồng, không được hưởng lợi. Cơ quan điều tra không thu hồi được hai chiếc loa này.

Tài liệu điều tra thể hiện: 02 chiếc loa trên là của anh Nguyễn Cao C (SN: 1988, HKTT: Phường ĐK, Hoàng Mai, Hà Nội) gửi Công ty giao hàng nhanh vận chuyển cho khách hàng. Sau đó, anh C đã được Công ty giao hàng nhanh bồi thường giá trị 02 chiếc loa nên không có yêu cầu gì, quyền sở hữu tài sản thuộc về Công ty giao hàng nhanh.

Tại Kết luận định giá tài sản số 55 đề ngày 13/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS quận Long Biên kết luận: Đối với tài sản 01 loa Bluetooth Marshall Emberton màu đen mới chưa quả sử dụng và 01 loa Bluetooth Bose Soundlink Micro màu đen mới chưa qua sử dụng không đủ cơ sở định giá do tại thời điểm định giá bổ sung tài sản chưa được thu hồi và chủ sở hữu không cung cấp hóa đơn mua, tài liệu về thông tin kỹ thuật của tài sản, nước sản xuất, năm sản xuất.

Khoảng 10h30’ ngày 16/8/2021, T đến bưu cục 16A Hòa Mã, phường Phạm Đình Hổ, Hai Bà Trưng, Hà Nội để lấy hàng cho công ty. T thấy có nhiều kiện hàng ở ngoài cửa bưu cục, không có N viên trông coi nên đã lấy trộm 01 kiện hàng bên trong có 02 hộp mỹ phẩm kem Obagi và giấu lên cabin xe tải (T nghĩ bên trong là điện thoại). Sau khi rời khỏi bưu cục, T bóc kiện hàng ra kiểm tra thấy không phải là điện thoại mà là 02 hộp mỹ phẩm nên đã vứt đi (T không nhớ là vứt ở đâu, Cơ quan điều tra không thu hồi được tài sản).

Tại Kết luận định giá tài sản số 55 đề ngày 13/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS quận Long Biên kết luận:

- 01 hộp kem dưỡng da Obagi 360 retinol 0.5ml mới chưa qua sử dụng trị giá 1.069.200 đồng.

- 01 hộp kem dưỡngnứ Professional-CTMSERUM 20% mới chưa qua sử dụng trị giá 1.950.800 đồng.

Tài liệu điều tra thể hiện: 02 hộp mỹ phẩm trên là của chị Đoàn Thúy H (SN: 1987, HKTT: Số 12 ngõ 61 TĐ T, phường Quốc Tử Giám, Đống Đa, Hà Nội) gửi Công ty giao hàng nhanh vận chuyển cho khách hàng. Sau đó chị H đã được Công ty giao hàng nhanh bồi thường giá trị đơn hàng nên chị H không có yêu cầu gì, quyền sở hữu tài sản thuộc về Công ty giao hàng nhanh.

Cơ quan CSĐT - Công an quận Long Biên có công văn số 711 ngày 17/3/2022 gửi Cơ quan CSĐT - Công an quận Hai Bà Trưng để xác định thẩm quyền giải quyết vụ việc. Cơ quan CSĐT - Công an quận Hai Bà Trưng có công văn phúc đáp số 576 ngày 29/3/2022: xét thấy tội phạm thực hiện tại nhiều nơi khác nhau trên địa bàn thành phố Hà Nội, hiện Cơ quan CSĐT - Công an quận Long Biên đang thụ lý điều tra vụ án, để đảm bảo nguyên tắc cho lợi cho bị caó đề nghị Cơ quan CSĐT - Công an quận Long Biên tiếp tục điều tra giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

Ngày 04/10/2021, anh Đ Đức T (sinh năm: 1982, HKTT: Tổ 37, TT Đ Anh, huyện Đ Anh, Hà Nội) (cũng là lái xe của công ty) do có việc bận nên có nhờ T lái xe vận chuyển hàng cho anh T. T lái xe của anh T được công ty giao để chuyển hàng giữa kho hàng tại khu công nghiệp Đài Tư, phường PL, Long Biên, Hà Nội, bưu cục 7C10 Nguyễn Phong Sắc, bưu cục 116A Phạm Văn Đồng. Khi lấy hàng rời khỏi bưu cục 116A Phạm Văn Đồng, T điều khiển xe đến đoạn đường Lý Sơn, quận Long Biên, Hà Nội thì dừng lại và mở cửa thùng xe lấy trộm 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Dell 5505R5 màu bạc và 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Dell 7390I7 màu đen để lên ghế phụ trong cabin. T lái xe đến cửa hàng của L luôn và bán cho L với giá 12.000.000 đồng mỗi chiếc. Sau đó L đã bán 2 chiếc máy tính trên cho khách hàng không quen với giá lần lượt là 12.000.000 đồng và 12.700.000 đồng, hưởng lợi 700.000 đồng. Cơ quan điều tra không thu hồi được 02 chiếc máy tính xách tay này.

Tại Kết luận định giá tài sản số 55 đề ngày 13/4/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS quận Long Biên kết luận:

- 01 máy tính xách tay nhãn hiệu DELL 7390 i7-8650U/Ram16GB/SSD 512GB/FHD/Card, màu đen, máy mới chưa qua sử dụng trị giá 19.500.000 đồng.

- 01 máy tính xách tay nhãn hiệu DELL 5505 Ryzen5 4500U/Ram16GB/SSD 512GB/FHD/Card on, màu bạc, máy mới chưa qua sử dụng trị giá 19.800.000 đồng.

Tài liệu điều tra thể hiện: 02 máy tính laptop trên là của Công ty TNHH thương mại TCC HH, địa chỉ: 101 LTN, Hai Bà Trưng, Hà Nội giao cho Công ty giao hàng nhanh vận chuyển cho khách hàng. Sau đó, Công ty TCC HH đã được Công ty giao hàng nhanh bồi thường giá trị 02 chiếc laptop nên không có yêu cầu đề nghị gì, quyền sở hữu tài sản thuộc về Công ty giao hàng nhanh.

Ngày 17/11/2021, T được giao vận chuyển hàng từ bưu cục số 78 Khúc Thừa Dụ, phường DV, quận Cầu Giấy, TP Hà Nội đến kho hàng tại khu công nghiệp Đài Tư, phường PL, Long Biên, Hà Nội. Khi đi đến bưu cục 78 Khúc Thừa Dụ, T thấy có rất nhiều kiện hàng hóa để chờ chuyển đi. Lợi dụng N viên bưu cục không để ý, T lấy trộm 01 kiện hàng sau đó vứt ra cửa chính của bưu cục. Một lúc sau T đi ra chỗ vứt kiện hàng trước đó lấy rồi mang ra xe ô tô do T điều khiển. T mở kiện hàng thì phát hiện bên trong là 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro màu vàng. Sau đó T điều khiển xe ô tô đến trả hàng tại kho hàng ở khu công nghiệp Đài Tư. Sau khi trả hàng xong, T mang điện thoại trên đến cửa hàng của Nguyễn Trọng L bán cho L với giá 10.000.000 đồng. L đã bán được chiếc điện thoại trên cho khách hàng không rõ N thân lai lịch với giá 11.000.000 đồng, hưởng lợi 1.000.000 đồng. Cơ quan CSĐT chưa thu hồi được chiếc điện thoại này.

Tại Kết luận định giá tài sản số 29 ngày 24/01/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS quận Cầu Giấy kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 11 Pro, màu vàng, cũ đã qua sử dụng trị giá 12.820.000 đồng.

Tài liệu điều tra thể hiện: Chiếc điện thoại di động Iphone 11 Pro trên là của anh Lê Đức T (SN: 1992, HKTT: Phường TS, TP Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa) gửi Công ty giao hàng nhanh vận chuyển cho khách hàng. Sau đó anh T đã được Công ty giao hàng nhanh bồi thường toàn bộ giá trị của chiếc điện thoại nên không có yêu cầu gì, quyền sở hữu tài sản thuộc Công ty giao hàng nhanh.

Lời khai của Nguyễn Đình T phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Ngày 10/01/2022, Nguyễn Trọng L đến cơ quan điều tra xin đầu thú và khai nhận về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, L không hứa hẹn trước gì với T về việc tiêu thụ tài sản trộm cắp mà chỉ đến khi T mang tài sản đến L mới biết và mua. Lời khai của Nguyễn Trọng L phù hợp với lời khai của Nguyễn Đình T.

Cơ quan điều tra đã tạm giữ:

- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme 6;

- 01 chiếc điện thoại Vsmart Star 5;

- 01 chiếc điện thoại Xiaomi Redmi màu tím;

- 01 chiếc điện thoại Xiaomi Redmi Note 10;

- 01 chiếc điện thoại I Phone X;

- Của Nguyễn Đình T: 01 điện thoại di động Iphone 7 màu hồng;

- Của Nguyễn Trọng L: 01 điện thoại di động Samsung A71 màu trắng;

Cáo trạng số: 163 /CT-VKS ngày 25 - 7 - 2022 của Viện trưởng Viện kiểm sát N dân quận Long Biên đã truy tố các bị cáo Nguyễn Đình T về tội: Trộm cắp tài sản theo điểm c Khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự; Nguyễn Trọng L về tội: Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo Khoản 1 Điều 323 BLHS.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của người làm chứng phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra thấy rằng: Hành vi của bị cáo Nguyễn Đình T đã phạm tội: Trộm cắp tài sản, hành vi của bị cáo vi phạm vào điểm c khoản 2 Điều 173 của BLHS; hành vi của bị cáo Nguyễn Trọng L đã phạm tội: Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo Khoản 1 Điều 323 BLHS.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS đối với bị cáo Nguyễn Đình T; áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g K1 điều 52;Điều 65 BLHS đối với bị cáo Nguyễn Trọng L.

Về hình phạt: - Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T từ 32 tháng đến 36 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 60 tháng.

- Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng L từ 30 tháng đến 34 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 60 tháng.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: đề nghị áp dụng Điều 47 của BLHS và Điều 106 của BLTTHS.

- Đề nghị cho tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 7 màu hồng thu giữ của Nguyễn Đình T, 01 điện thoại di động Samsung A71 màu trắng thu giữ của Nguyễn Trọng L.

- Đề nghị cho tịch thu, sung quỹ Nhà nước số tiền 5.350.000 đồng.

Về dân sự: Công ty CP dịch vụ giao hàng nhanh yêu cầu Nguyễn Đình T bồi thường dân sự số tiền 86.520.000 đồng là giá trị các tài sản mà Nguyễn Đình T chiếm đoạt của Công ty nhưng cơ quan điều tra không thu hồi được.Bị cáo T đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường số tiền trên cho Công ty giao hàng nhanh. Công ty giao hàng nhanh không có yêu cầu gì và đề nghị gì nữa về dân sự.

Nói lời sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:

Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra-Công an quận Long Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát N dân quận Long Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai báo thành khẩn và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Về tội danh:

Xét lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản tạm giữ đồ vật - tài liệu, bản kết luận định giá tài sản, lời khai bị hại, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dụng cáo trạng của Viện trưởng Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 25/4/2021, tại khu vực đường Đàm Q Trung, phường PĐ, Long Biên, Hà Nội, Nguyễn Đình T có hành vi trộm cắp 01 điện thoại di động Realme 6 màu trắng trị giá 4.500.000 đồng và 01 tai nghe không dây nhãn hiệu Earbuds trị giá 450.000 đồng là tài sản của Công ty dịch vụ giao hàng nhanh. Nguyễn Trọng L có hành vi tiêu thụ tài sản trên khi biết rõ là do T phạm tội mà có, hưởng lợi 550.000 đồng.

Ngày 29/4/2021, tại khu vực đường Đàm Q Trung, phường PĐ, Long Biên, Hà Nội, Nguyễn Đình T có hành vi trộm cắp 01 Ipad Pro trị giá 23.500.000 đồng, 01 điện thoại di động Xiaomi Redmi 9 trị giá 2.300.000 đồng và 01 điện thoại di động Vsmart Star 5 trị giá 1.500.000 đồng là tài sản của Công ty dịch vụ giao hàng nhanh. Nguyễn Trọng L có hành vi tiêu thụ tài sản trên khi biết rõ là do T phạm tội mà có, hưởng lợi 1.800.000 đồng.

Ngày 10/5/2021, tại khu vực đường Đàm Q Trung, phường PĐ, Long Biên, Hà Nội, Nguyễn Đình T có hành vi trộm cắp 01 điện thoại di động Xiaomi Redmi Note 10 trị giá 3.000.000 đồng là tài sản của Công ty dịch vụ giao hàng nhanh. Nguyễn Trọng L có hành vi tiêu thụ tài sản trên khi biết rõ là do T phạm tội mà có, hưởng lợi 1.000.000 đồng.

Ngày 17/5/2021, tại khu vực đường Đàm Q Trung, phường PĐ, Long Biên, Hà Nội, Nguyễn Đình T có hành vi trộm cắp 01 điện thoại di động Iphone X trị giá 6.500.000 đồng là tài sản của Công ty dịch vụ giao hàng nhanh.

Ngày 05/8/2021, tại khu vực đường Cổ L - Long Biên, phường Long Biên, Long Biên, Hà Nội, Nguyễn Đình T có hành vi trộm cắp 01 chiếc loa Bluetooth Marshall Emberton và 01 chiếc loa Bluetooth Soundlink Micro (không định giá được) là tài sản của Công ty dịch vụ giao hàng nhanh. Nguyễn Trọng L có hành vi tiêu thụ tài sản trên khi biết rõ là do T phạm tội mà có, hưởng lợi 300.000 đồng.

Ngày 16/8/2021, tại bưu cục 16A Hòa Mã, phường Phạm Đình Hổ, Hai Bà Trưng, Hà Nội, Nguyễn Đình T có hành vi trộm cắp 01 hộp kem dưỡng da Obagi 360 retinol 0.5ml mới chưa qua sử dụng trị giá 1.069.200 đồng, 01 hộp kem dưỡng Professional-CTMSERUM 20% mới chưa qua sử dụng trị giá 1.950.800 đồng là tài sản của Công ty dịch vụ giao hàng nhanh.

Ngày 04/10/2021, tại khu vực đường Lý Sơn, phường Ngọc Thụy, Long Biên, Hà Nội, Nguyễn Đình T có hành vi trộm cắp 01 máy tính xách tay DELL 7390 i7-8650U/Ram16GB/SSD 512GB/FHD/Card, màu đen, máy mới chưa qua sử dụng trị giá 19.500.000 đồng, 01 máy tính xách tay DELL 5505 Ryzen5 4500U/Ram16GB/SSD 512GB/FHD/Card on, màu bạc, máy mới chưa qua sử dụng trị giá 19.800.000 đồng là tài sản của Công ty dịch vụ giao hàng nhanh. Nguyễn Trọng L có hành vi tiêu thụ tài sản trên khi biết rõ là do T phạm tội mà có, hưởng lợi 700.000 đồng.

Ngày 17/11/2021, tại bưu cục số 78 Khúc Thừa Dụ, phường DV, Cầu Giấy, Hà Nội, Nguyễn Đình T có hành vi trộm cắp 01 điện thoại di động Iphone 11 Pro trị giá 12.820.000 đồng là tài sản của Công ty dịch vụ giao hàng nhanh. Nguyễn Trọng L có hành vi tiêu thụ tài sản trên khi biết rõ là do T phạm tội mà có, hưởng lợi 1.000.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản Nguyễn Đình T chiếm đoạt là 96.890.000 đồng (Chín mươi sáu triệu tám trăm chín mươi nghìn đồng), (01 lần phạm tội ngày 05/8/2022 không định giá được tài sản chiếm đoạt).

Nguyễn Trọng L có hành vi tiêu thụ tài sản do T phạm tội mà có 05 lần với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 87.370.000 đồng, hưởng lợi 5.350.000 đồng.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Đình T đã phạm tội: Trộm cắp tài sản. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo Nguyễn Trọng L đã phạm tội: Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát N dân quận Long Biên truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo Nguyễn Đình T đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân, bị cáo Nguyễn Trọng L đã xâm phạm gián tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được Bộ luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội, xét về tính chất, mức độ hành vi và hậu quả thấy cần phải xử phạt các bị cáo một mức hình phạt tương xứng để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm [3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

- Về tình tiết tăng nặng TNHS:

N thân của các bị cáo không có tiền án, tiền sự, Bị cáo L thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần là tình tiết tăng nặng TNHS theo điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS nhưng được xác định các lần phạm tội đều là tội phạm ít nghiêm trọng.

- Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Bị cáo Nguyễn Đình T đã tác động gia đình để bồi thường dân sự cho bị hại; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đầu thú quy định tại điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 BLHS.

Bị cáo Nguyễn Trọng L thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đầu thú; gia đình bị cáo đã tự nguyện giao nộp tiền thu lợi bất chính; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo quy định tại điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 BLHS.

Với những phân tích nêu ở trên thấy không cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn mà áp dụng điều 65 BLHS cho các bị cáo được hưởng án treo là thoả đáng, phù hợp với quy định của pháp luật và đáp ứng yêu cầu răn đe, phòng ngừa tội phạm trong chính sách hình sự của vụ án này.

Về hình phạt bổ sung:

Xét các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có khả năng thi hành phạt bổ sung bằng tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là có căn cứ.

Về xử lý vật chứng:

- Cho tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 7 màu hồng thu giữ của Nguyễn Đình T, 01 điện thoại di động Samsung A71 màu trắng thu giữ của Nguyễn Trọng L do các bị cáo sử dụng vào việc thực hiện tội phạm.

- Cho tịch thu, sung Ngân sách Nhà nước số tiền 5.350.000 đồng là số tiền bị cáo Nguyễn Trọng L hưởng lợi bất chính từ việc thực hiện tội phạm.

Về dân sự: Bị cáo T đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường cho Công ty giao hàng nhanh số tiền là 86.520.000 đồng. Công ty giao hàng nhanh không có yêu cầu đề nghị gì khác về dân sự. Nên HĐXX không xem xét giải quyết trong Bản án này.

Bà Nguyễn Thị V là mẹ đẻ của Nguyễn Trọng L đã tự nguyện giao nộp cho cơ quan điều tra số tiền 5.350.000 đồng là tiền L thu lợi bất chính từ việc phạm tội. Bà Víu không yêu cầu bị cáo L phải hoàn trả lại số tiền trên nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Đại diện VKSND quận Long Biên đề nghị về hình phạt chính, hình phạt bổ sung, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS, xử lý vật chứng và dân sự là có căn cứ và phù hợp với nhận định của HĐXX.

Về vấn đề khác:

Đối với hành vi trộm cắp tài sản trị giá 1.800.000 đồng ngày 31/5/2021 của Nguyễn Đình T, do hành vi chưa đủ cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo Điều 173 BLHS nên Công an quận Long Biên ra quyết định xử phạt hành chính đối với Nguyễn Đình T về hành vi Trộm cắp tài sản theo điểm a Khoản 1 Điều 15 Nghị định 167/2013 của Chính phủ, phạt tiền 1.500.000 đồng.

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme 6; 01 chiếc điện thoại Vsmart Star 5; 01 chiếc điện thoại Xiaomi Redmi màu tím; 01 chiếc điện thoại Xiaomi Redmi Note 10; 01 chiếc điện thoại IPhone X mà cơ quan điều tra thu giữ được, quá trình điều tra xác định là tài sản của Công ty CP dịch vụ giao hàng nhanh. Do đó, cơ quan điều tra đã trao trả 05 chiếc điện thoại trên cho Công ty CP dịch vụ giao hàng nhanh. Công ty CP dịch vụ giao hàng nhanh đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm về dân sự nên HĐXX không xem xét.

Về án phí:

Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo và những người tham gia tố tụng được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình T phạm tội: Trộm cắp tài sản, bị cáo Nguyễn Trọng L phạm tội: Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình T 32 (Ba mươi hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án.

Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trọng L 24 (Hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Nguyễn Đình T cho UBND phường TT – quận Long Biên – Hà Nội, giao bị cáo Nguyễn Trọng L UBND phường PĐ – quận Long Biên – Hà Nội cho để giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo Cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (Hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 1 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Cho tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 7 màu hồng thu giữ của Nguyễn Đình T, 01 điện thoại di động Samsung A71 màu trắng thu giữ của Nguyễn Trọng L.

- Cho tịch thu, sung quỹ Nhà nước số tiền 5.350.000 đồng.

(Hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Long Biên theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 25/7/2022 và Biên lai nộp tiền vào tài khoản ngày 25/7/2022).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.

4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 bộ luật Tố tụng Hình sự.

Án xử công khai sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bị hại có quyền làm đơn kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt Bản án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo Bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi của mình trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án./.

Cỡ chữ