- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Nguyễn Quang T phạm tội Trộm cắp tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN ND Q HOÀN KIẾM THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 206/2022/HS-ST Ngày: 30/9/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nguyên
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hòa
Ông Nguyễn Ngọc Hấn
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hảo
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên tòa: Ông Lê Việt Đức - Kiểm sát viên
Hôm nay ngày 30 tháng 09 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự, thụ lý số 175/2022/HSST ngày 25 tháng 08 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 175/2022/QĐXX-ST ngày 19 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Quang T - Giới tính: Nam; Sinh năm: 1985; Tên gọi khác: không; Nơi cư trú: Thôn X, xã Kim Lũ, huyện Sóc Sơn, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do
Trình độ học vấn: 9/12; Họ tên cha: Nguyễn Quang C - Đã chết; Họ tên Mẹ: Nguyễn Thị N - Sinh năm: 1941; Gia đình có 04 chị em, bị can là con thứ tư; Vợ: Nguyễn Thị M - Sinh năm: 1987; Có 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2011.
Tiền án, Tiền sự: 04 tiền án (trong đó có 02 tiền án đã xóa)
Tiền án :
- Ngày 18/4/2014, Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn xử phạt 18 tháng tù về tội Đánh bạc ; thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án (AS : 50A/2014/HSST). Xác minh tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn : đã nộp án phí – chưa xóa án tích.
- Ngày 23/8/2016, Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn xử phạt 30 tháng tù về tội Đánh bạc, buộc bị cáo chấp hành 18 tháng tù của bản án số 50A/2014/HSST, tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo chấp hành chung 02 bản án là 48 tháng tù (AS : 122/2016/HSST). Xác minh tại chi cục thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn : đã nộp án phí. Ra trại ngày : 21/01/2020 – chưa xóa án tích.
Phạm tội lần này thuộc trường hợp Tái phạm nguy hiểm.
Nhân thân:
- Ngày 21/01/2008, Tòa án nhân dân huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 18 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng về tội Trộm cắp tài sản (AS : 27/2008/HSST). Xác minh tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Từ Sơn, Chi cục thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn : đã nộp án phí – án tích đã xóa.
- Ngày 05/6/2009, Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản (AS : 35/2009/HSST), buộc phải chấp hành hình phạt 01 năm 6 tháng tù của bản án số 27/2008/HSST. Xác minh tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Xuyên: đã nộp án phí. Đặc xá ra trại : 30/8/2010 – án tích đã xóa.
Hiện bị cáo đang bị tạm giam trong một vụ án khác.
* Bị hại: Chị Lê Thị Thanh H
Cư trú tại: P– phường Phương Mai, quận Đống Đa, Hà Nội.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án như sau:
Khoảng 11 giờ 50 phút ngày 05/01/2021, tổ công tác thuộc Đội CSĐTTP về TTXH – Công an quận Hoàn Kiếm tuần tra kiểm soát trên địa bàn phát hiện Nguyễn Duy A (sinh năm: 1992; nơi cư trú: thôn X, xã Kim Lũ, huyện Sóc Sơn, Hà Nội) điều khiển xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter chở một nam thanh niên có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành dõi. Khi đi đến trước cửa 22 Nhà Thờ, phường Hàng Trống, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội thì đối tượng ngồi sau ngồi lại trên xe máy Exciter cảnh giới, còn A xuống xe và tiến lại gần chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH mode (biển kiểm soát: 29E1-76638) đang dựng ở trước cửa 20 Nhà Thờ, dùng vam phá khóa chiếc xe rồi điều khiển xe bỏ chạy. Thấy vậy, tổ công tác ngay lập tức đuổi theo, đến ngã tư phố Lý Quốc Sư – Hàng Bông, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội thì chặn được xe của A; A vứt xe bỏ chạy đến trước cửa số 36 Hàng Bông thì bị tổ công tác bắt giữ. Trong lúc này, đối tượng điều khiển xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter đã bỏ chạy. Tổ công tác đã tiến hành đưa A cùng tang vật về trụ sở Công an quận Hoàn Kiếm để làm việc.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 15/KL-HĐĐGTS ngày 10/01/2021 của Hội đồng định giá thường xuyên để định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân quận Hoàn Kiếm kết luận: Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH mode màu xanh, BKS: 29E1-76638, số khung: 5103DY077824, số máy: F15E-0077856 đã qua sử dụng có giá trị 35.000.000 (Ba mươi lăm triệu đồng).
Tại cơ quan Công an, Nguyễn Duy A khai: Khoảng 10 giờ ngày 05/01/2021, A cùng Nguyễn Quang T rủ nhau đi trộm cắp xe máy. A điều khiển xe máy Exciter màu xanh (không nhớ biển kiểm soát, xe của T) chở T để đi trộm cắp xe máy. A và T đi qua nhiều tuyến phố trên địa bàn Hà Nội, khoảng 12 giờ cùng ngày đến phố Nhà Thờ thì phát hiện một chiếc xe máy Honda SH mode màu xanh (biển kiểm soát: 29E1-76638) dựng ở vỉa hè trước cửa 20 Nhà Thờ, không ai trông giữ. A dừng xe máy trước cửa số 22 Nhà Thờ, để T ngồi lại trên xe Yamaha Exciter quan sát, cảnh giới, còn A trực tiếp áp sát, sử dụng vam phá ổ khóa chiếc xe máy trên và sử dụng chìa khóa 02 cạnh chuẩn bị từ trước cắm vào ổ khóa để nổ máy và bỏ chạy. Tổ công tác phát hiện và đuổi theo, đến ngã tư Lý Quốc Sư - Hàng Bông thì bắt giữ A như nêu trên. T đã điều khiển chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xanh bỏ chạy.
Chị Lê Thị Thanh H khai: Khoảng 9 giờ sáng ngày 05/01/2021 điều khiển xe Honda SH mode màu xanh (biển kiểm soát: 29E1-76638) đến làm việc, dựng xe tại vỉa hè trước cửa số 20 Nhà Thờ, phường Hàng Trống, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, chị H phát hiện xe bị mất trộm nên đã đến công an phường Hàng Trống trình báo. Ngày 15/01/2021, Cơ quan điều tra đã tiến hành trả xe cho chị H, sau khi nhận lại xe, chị H không có yêu cầu gì khác về dân sự.
Căn cứ tài liệu điều tra, ngày 06/01/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Hoàn Kiếm khởi tố vụ án hình sự Trộm cắp tài sản, ngày 13/01/2021, Cơ quan CSĐT – CAQ. Hoàn Kiếm khởi tố bị can đối với Nguyễn Duy A về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.
Quá trình điều tra Nguyễn Quang T: không có mặt tại nơi cư trú, Cơ quan điều tra đã ra thông báo truy tìm nhưng chưa có kết quả. Quá trình bị truy bắt, đối tượng đeo khẩu trang nên không có nhân chứng nhận dạng được T. Căn cứ vào tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ làm rõ hành vi Nguyễn Quang T nên ngày 28/02/2021, Cơ quan điều tra ra Quyết định phân công giải quyết nguồn tin về tội phạm đối với Nguyễn Quang T trong vụ án để tiếp tục xác minh, xử lý. Ngày 18/3/2021, Cơ quan CSĐT đã tạm đình chỉ giải quyết tố giác do chưa lấy được lời khai của Nguyễn Quang T để đấu tranh, làm rõ hành vi Trộm cắp tài sản.
Ngày 30/3/2021, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm đã đưa vụ án Nguyễn Duy A xét xử về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS. Tháng 6/2022, Nguyễn Quang T bị Công an thành phố Hà Nội bắt về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Tại cơ quan điều tra, T khai: Ngày 05/01/2021 mượn xe máy Exciter của anh Nguyễn Công Yên (sinh năm: 1994; trú tại xóm Bèo, thôn X, xã Kim Lũ, huyện Sóc Sơn), không nói mục đích mượn xe. Nguyễn Duy A chuẩn bị vam phá khóa, T chở A qua nhiều tuyến phố tìm người sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đi đến 20 phố Nhà Thờ, phát hiện 01 xe máy SH Mode dựng trên vỉa hè không có người trông giữ, A xuống xe dùng vam để phá khóa, T ngồi trên xe cảnh giới (cách 6-7m). Sau khi nổ được máy xe, A và T lái xe bỏ chạy; đi được khoảng 300 m thì T thấy A bị ngã, người dân vây bắt nên T đã phóng xe bỏ chạy.
Cơ quan điều tra đã cho Nguyễn Quang T chỉ địa điểm, nhận dạng ảnh và T đã nhận ra Nguyễn Duy A là người cùng thôn, đã cùng T trộm cắp tài sản tại số 20 Nhà Thờ, phường Hàng Trống, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội ngày 05/01/2021. Anh Nguyễn Công Yên khai không nhớ cho T mượn xe Exciter không, không biết việc T sử dụng xe trộm cắp tài sản. Anh Yên đã bán chiếc xe trên cho một người không quen biết. Xét thấy không liên quan đến vụ án, Cơ quan điều tra không có hình thức xử lý đối với anh Yên.
Tại Bản cáo trạng số 170/CT-VKS ngày 22/08/2022 Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm truy tố bị cáo Nguyễn Quang T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận do hám lợi nên bị cáo và Nguyễn Duy A đã rủ nhau đi trộm cắp tài sản là chiếc xe máy của chị H. Bị cáo ăn năn hối hận về hành động thiếu suy nghĩ của mình và mong HĐXX cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất. Bị cáo thừa nhận Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 điều 173 Bộ luật hình sự là đúng.
Người bị hại là chị Lê Thị Thanh H vắng mặt tại phiên tòa, chị H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm giữ nguyên quan điểm đã truy tố, sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đề nghị áp dụng điểm g khoản 2 điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự kết tội bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”; Đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ tháng tù đến tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tố tụng: Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về hành vi: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận thành khẩn hành vi trộm cắp tài sản của chị Lê Thị Thanh H là xe máy Honda SH mode màu xanh.
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự, do bị cáo có hai tiền án chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này là “tái phạm nguy hiểm” và là tình tiết tăng nặng định khung.
Giá trị tài sản Nguyễn Quang T trộm cắp là 35.000.000 đồng (ba mươi lăm triệu đồng).
Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo có 02 tiền án đã được xóa án tích và 02 tiền án chưa được xóa án tích, lần phạm tội này là tái phạm nguy hiểm nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng định khung.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tình tiết tăng nặng: Không.
Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu của công dân và gây mất trật tự trị an trong xã hội. Bị cáo là người trưởng thành, hoàn toàn có đủ khả năng nhận thức được hành vi cũng như hậu quả của hành vi do mình gây ra nhưng do tham lam mà phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Nhân thân bị cáo có 02 tiền án đã được xóa án tích về tội Trộm cắp tài sản chứng tỏ bị cáo đã được cơ quan pháp luật giáo dục nhiều lần nhưng không có ý thức rèn luyện bản thân. Vì vậy HĐXX thấy cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, HĐXX xem xét đến tình tiết giảm nhẹ bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản trộm cắp đã thu hồi trả cho người bị hại để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường về dân sự nên HĐXX không xem xét.
Vật chứng: Không có.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Nguyễn Quang T phạm tội Trộm cắp tài sản.
2. Áp dụng:
+ Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự;
+ Các Điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
3. Xử phạt: Nguyễn Quang T
24 tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
4. Vật chứng: Không có.
5. Án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.
Thành viên Hội đồng xét xử
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |