vanban.org

Bản án 206/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Tuyên án 06/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc H i quy định về mức thu, miễn, giảm, thu n p, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuy n bố bị cáo Phạm Minh T phạm t i “Tr m cắp tài sản”. 1/ Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Minh T 01 (m t) năm tù. Thời hạn ch p hành hình phạt tù tính từ ngày 15/7/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Minh T phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc H i quy định về mức thu, miễn, giảm, thu n p, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ T
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 206/2021/HS-ST
Ngày: 06-12-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Chung.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Đặng Minh Lý.

2/ Ông Trương Ngọc Điệp.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố T.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành ph T tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mai Hường - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 199/2021/TLST-HS ngày 08/11/2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 240/2021/QĐXXST-HS ngày 22/11/2021 đối với bị cáo:

Họ và t n: Phạm Minh T, sinh năm 1984, tại tỉnh Ninh Bình; Nơi ĐKHKTT: Xóm A, xã Khánh T, huyện Y n K, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Thợ cơ khí; Trình đ học v n: 11/12; Dân t c: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn T2 (chết) và bà Phạm Thị H; Vợ t n Nguyễn Thị Bích L, có 01 con sinh năm 2007; Tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ từ ngày 15/7/2021 và tạm giam cho đến nay. Có mặt.

Bị hại: Bà Trương Thị Ngọc M, sinh năm 1969; địa chỉ: Tổ A, khu phố B, phường Phú H, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1967; địa chỉ: Số A đường Trường S, phường B, quận Bình Th, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt

Người làm chứng: Anh Nguyễn Thanh P. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phi n tòa, n i dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 00 ngày 15/7/2021, Phạm Minh T được m t người bạn t n Kiệt (không rõ họ t n và địa chỉ cư trú) chở đến chợ Bình Điềm, địa chỉ tại tổ 10, khu phố 8, phường Phú Hòa, thành phố T, tỉnh Bình Dương để mua rau. Khi đến khu vực cổng chợ Bình Điềm, T đi b vào trong chợ thì nhìn th y m t dãy xe mô tô khoảng 10 (mười) chiếc được dựng trước khu vực cổng Trường Mầm non Vành Khuy n, địa chỉ tại tổ 10, khu phố 8, phường Phú Hòa, thành phố T, tỉnh Bình Dương không có người coi giữ, trong đó có 01 (m t) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh đen, biển số 61N1-9379 của bà Trương Thị Ngọc M có cắm sẵn chìa khóa tr n ổ khóa xe nên T nảy sinh ý định l y tr m chiếc xe tr n để sử dụng làm phương tiện đi lại. Lúc này, T quan sát th y xung quanh không có người để ý và bà M đang đứng bán hàng cách đó khoảng 10m nên T liền lén lút đẩy xe mô tô biển số 61N1-9379 ra ngoài rồi l n xe mô tô nổ máy bỏ chạy thì bị bà M phát hiện và tri hô. Ngay lúc đó, anh Nguyễn Thanh P đang điều khiển xe mô tô đi tr n đường nghe tiếng tri hô của bà M n n liền đuổi theo T được khoảng 50m thì bắt được T cùng vật chứng là 01 (m t) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh đen, biển số 61N1-9379 giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T để lập bi n bản bắt người phạm t i quả tang và điều tra, xử lý theo thẩm quyền.

Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 763/KLTS-TTHS ngày 22/7/2021 của H i đồng định giá thường xuy n tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: 01 (m t) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh đen, biển số 61N1-9379 trị giá là 6.500.000 (Sáu triệu năm trăm nghìn) đồng.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh đen, biển số 61N1-9379, quá trình điều tra xác định xe mô tô tr n do anh Nguyễn Chí Q, sinh năm 1986, cư trú tại số 130, tổ 69, khu phố 10, phường Phú Cường, thành phố T, tỉnh Bình Dương đứng t n tr n gi y chứng nhận đăng ký xe. Năm 2009, anh Q đã bán xe mô tô cho ông Nguyễn Văn H (là chồng của bà M), có lập gi y mua bán được Ủy ban nhân dân phường Phú Cường chứng thực, nhưng chưa làm thủ tục sang t n. Quá trình làm việc, ông H khai nhận đã giao xe mô tô biển số 61N1-9379 cho bà Trương Thị Ngọc M toàn quyền sử dụng n n không có ý kiến. Do đó, ngày 11/8/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố T ra Quyết định số 106/QĐ-CSĐT-ĐTTH xử lý vật chứng là giao trả xe mô tô tr n cho bà M. Hiện bà M không có y u cầu gì đối với T.

Cáo trạng số 200/CT-VKS-HS ngày 04/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố T truy tố bị cáo Phạm Minh T về t i “Tr m cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của B luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phi n tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T trong phần tranh luận, giữ nguy n quyết định truy tố bị cáo, đồng thời đề nghị H i đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của B luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Phạm Minh T mức hình phạt từ 01 năm tù đến 01 năm 03 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét.

Tại phi n tòa, bị cáo không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tr n cơ sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phi n tòa, H i đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra vi n, Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, Kiểm sát vi n trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của B luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phi n tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là phù hợp với quy định của pháp luật.

Tại phi n tòa, bị cáo Phạm Minh T đã khai nhận toàn b hành vi phạm t i. Lời khai nhận t i của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, bi n bản hỏi cung bị can, bi n bản l y lời khai của bị hại, người làm chứng cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ 00 ngày 15/7/2021, tại khu vực cổng Trường Mầm non Vành Khuy n, địa chỉ tổ 10, khu phố 8, phường Phú Hòa, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Phạm Minh T đã lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt 01 (m t) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu xanh đen, biển số 61N1-9379 trị giá là 6.500.000 (Sáu triệu năm trăm nghìn) đồng của bị hại bà Trương Thị Ngọc M để sử dụng làm phương tiện đi lại. Hành vi mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố c u thành t i “Tr m cắp tài sản” được quy định tại được quy định tại khoản 1 Điều 173 của B luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố T truy tố bị cáo theo t i danh và điều khoản như tr n là có căn cứ, đúng người, đúng t i, đúng pháp luật.

Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã h i, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản, gây m t trật tự, trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Bị cáo nhận thức rõ hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo đã b t ch p sự trừng phạt của pháp luật, thực hiện hành vi phạm t i với l i cố ý trực tiếp. Vì vậy, cần có mức hình phạt nghi m, tương xứng với tính ch t, mức đ , hành vi phạm t i mà bị cáo đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi xã h i m t thời gian để có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã h i, đồng thời nhằm đ u tranh phòng chống t i phạm chung.

4 Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm t i lần đầu và thu c trường hợp ít ngh m trọng. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái đ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm t i của mình. Tài sản đã được thu hồi và giao trả người bị hại. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của B luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Căn cứ vào nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ, xét mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp.

Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án đã được thu hồi trả lại cho bị hại, bị hại không y u cầu gì khác n n trách nhiệm dân sự không đặt ra.

Về án phí: Bị cáo phải n p theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ tr n,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của B luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Căn cứ các Điều 106, 136, 260, 331, 333 của B luật Tố tụng hình sự;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc H i quy định về mức thu, miễn, giảm, thu n p, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuy n bố bị cáo Phạm Minh T phạm t i “Tr m cắp tài sản”.

1/ Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Minh T 01 (m t) năm tù. Thời hạn ch p hành hình phạt tù tính từ ngày 15/7/2021.

2/ Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét.

3/ Về án phí sơ thẩm: Bu c bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4/ Bị cáo có mặt tại phi n tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuy n án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ li n quan vắng mặt n n được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được ni m yết công khai.

Cỡ chữ