vanban.org

Bản án 206/2019/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Đống Đa, TP. Hà Nội Tuyên án 14/08/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Nguyễn Xuân T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Buộc Nguyễn Xuân T bồi thường cho anh Phạm Chí T số tiền 4.800.000 (bốn triệu tám trăm nghìn) đồng; Buộc Nguyễn Xuân T bồi thường cho anh Hồ Tùng L số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng;

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân Tình - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Nguyễn Xuân T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Luật Thi hành án dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TAND QUẬN Đ
THÀNH PHỐ H
Bản án số: 206/2019/ HS-ST
Ngày: 14/08/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Đ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phương Thảo Các hội thẩm nhân dân: Ông Lê Bá L

Và bà Ngô Thị Kim V

- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Xuân Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đ tham gia phiên tòa: Ông Đào Việt D - Kiểm sát viên.

Hôm nay, hồi 09 giờ 00 phút, ngày 14 tháng 08 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đ, thành phố H xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 189/2019/ TLST-HS ngày 05 tháng 07 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 212/2019/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 07 năm 2019 đối với bị cáo: NGUYỄN XUÂN T; Sinh ngày 20/10/1990 tại tỉnh H; HKTT: Đội 3, thôn C, xã G, huyện G, tỉnh H; Chỗ ở: số 20, ngõ 1142 Đ, phường N, quận B, thành phố H; Nghề Nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K và bà Ngô Thị M; tiền án, tiền sự: chưa; Danh chỉ bản số: 140 lập ngày 09/01/2019 tại Công an quận Đ. Đầu thú ngày 08/01/2019; Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố H; Bị cáo có mặt tại phiên tòa. Bị hại, nguyên đơn dân sự:

1. Anh Phạm Chí T, sinh năm 1983; Địa chỉ: Số 11/30/191 Mi, phường M, quận H, thành phố H.(Vắng mặt)

2. Anh Hồ Tùng L, sinh năm 1982; ĐKHKTT: thôn Th, xã T, huyện T, tỉnh H; trú tại: xã Đ, huyện Th, tỉnh N.(Vắng mặt)

3. Anh Hoàng Duy T, sinh năm 1992; ĐKHKTT: xã Q, huyện Q, tỉnh T; Trú tại: xã G, huyện Y, tỉnh H.(Vắng mặt)

4. Anh Nguyễn Viết T, sinh năm 1985; Địa chỉ: Thôn 3, N, huyện G, thành phố H.(Vắng mặt)

5. Ông Nguyễn Anh N, sinh năm 1972; Địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện T, thành phố H.(Có mặt)

6. Ông Tạ Văn T, sinh năm 1976; ĐKHKTT: Thôn K, xã H, huyện N, tỉnh H.(Vắng mặt)

7. Anh Vũ Ngọc T, sinh năm 1983; Địa chỉ: Số 159 N, phường Đ, quận L, thành phố H.(Vắng mặt)

8. Ông Nguyễn Chí D, sinh năm 1969; Địa chỉ: Số 55, đường 25/4 phường H, thành phố H, tỉnh Q.(Vắng mặt)

9. Ông Đỗ Chiến T, Địa chỉ: 23 B2 CT4 khu đô thị V, quận H, thành phố H.(Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bản thân T không kinh doanh đồ điện tử, điện lạnh cũ, nhưng do cần tiền tiêu xài cá nhân, T đã tải các hình ảnh đồ điện tử, điện lạnh cũ trên mạng xã hội và dùng các hình ảnh này đăng bài rao bán trên mạng xã hội, nhằm chiếm đoạt số tiền đặt cọc của những người đặt mua hàng. Ngày 22/4/2018, Nguyễn Xuân T dùng tài khoản Facebook cá nhân của mình, mang tên “Q.A” vào nhóm “Chuyên hàng nội địa Nhật” để đăng bài rao bán đồ điện lạnh cũ với mục đích lừa đảo. Ngày 22/4/2018 anh Phạm Chí T dùng tài khoản Facebook cá nhân của mình là “P.T” truy cập vào trang “chuyên hàng nội địa Nhật” để tìm mua tủ lạnh cũ. Khi tìm kiếm, Trung thấy tài khoản Facebook “Q.A” có đăng bài rao bán tủ lạnh cũ, đã nhắn tin qua Facebook và gọi vào hai số điện thoại (0868677966, 0984703390) mà T đã đính kèm bài đăng và được T thông báo giá chiếc tủ lạnh Hitachi C5700XT 2013 là 25.000.000 đồng (hai mươi lăm triệu đồng). Sau đó hai bên thống nhất giá chiếc tủ lạnh trên là 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng), và anh T phải đặt cọc trước số tiền 4.800.000 đồng (bốn triệu tám trăm nghìn đồng). Sáng ngày 23/4/2018 T gửi cho anh T số tài khoản ngân hàng BIDV: 12810000375063 mang tên Nguyễn Xuân T, và yêu cầu anh T chuyển tiền đặt cọc vào tài khoản này. Sau đó, tại nơi làm việc ở 11B C, quận Đ, thành phố H, anh T đã chuyển số tiền 4.800.000 đồng (bốn triệu tám trăm nghìn đồng) từ số tài khoản: 21610000049555, ngân hàng BIDV của mình qua dịch vụ Internet banking vào số tài khoản mà T đã gửi. Sau khi nhận được tiền, T đã chặn liên lạc qua Facebook, qua điện thoại với anh T để chiếm đoạt số tiền 4.800.000 đồng. Số tiền chiếm đoạt được, T đã tiêu xài cá nhân hết. Hiện anh T đề nghị xử lý T theo đúng quy định pháp luật và yêu cầu T bồi thường số tiền 4.800.000 đồng (bốn triệu tám trăm nghìn đồng).

Quá trình điều tra mở rộng vụ án, đã xác định Nguyễn Xuân T sử dụng thủ đoạn như trên, chiếm đoạt tài sản của nhiều người khác, cụ thể như sau:

Vụ thứ 1: Ngày 26/3/2018 anh Hồ Tùng L (sinh năm: 1982, HKTT: xã Đ, huyện T, tỉnh N) dùng tài khoản facebook cá nhân của mình là “Hồ Tùng L” truy cập vào trang facebook “Hàng bãi Nhật Hàn” để tìm mua lô điều hòa nhiệt độ. Khi tìm kiếm anh L thấy tài khoản Facebook “Q.A” (tài khoản facebook của Nguyễn Xuân T) có đăng bài rao bán lô điều hoà, nên đã nhắn tin qua Facebook cho T, muốn mua hai lô hàng điều hòa gồm các hãng Daikin, Panasonic, Fujitsu, mỗi lô 200 chiếc, tổng là 400 chiếc. T thông báo giá mỗi lô hàng điều hòa là 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng), hai lô tổng là 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng). Sau khi đã thống nhất giá như trên, theo yêu cầu của T, trong các ngày 27/3/2018, 30/3/2018 và 03/4/2018 anh L đã chuyển khoản số tiền đặt cọc là 30.000.000 đồng vào số tài khoản 12810000375063 của Nguyễn Xuân T, tại ngân hàng BIDV chi nhánh C. Sau khi nhận được tiền, T đã chặn liên lạc với Facebook của anh L. Đối với số tiền đã chiếm đoạt được, T tiêu xài cá nhân hết. Hiện anh L đề nghị xử lý T theo đúng quy định pháp luật và yêu cầu T bồi thường số tiền 30.000.000 đồng ( ba mươi triệu đồng).

Vụ thứ 2: Ngày 11/5/2018 anh Hoàng Duy T (SN: 1992; Trú tại: xã G, huyện Y, tỉnh H) có dùng tài khoản facebook cá nhân của mình là “H.T” truy cập vào trang facebook “Hội điện tử điện lạnh Sài Gòn” để tìm mua máy giặt. Khi tìm kiếm anh T thấy facebook “T.N” (tài khoản facebook của Nguyễn Xuân T) có đăng bài bán máy giặt nên đã nhắn tin qua facebook trao đổi với T. Sau đó anh T và T thống nhất giá của chiếc máy giặt Toshiba TW-2500VC là 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng). T yêu cầu anh T chuyển toàn bộ giá trị chiếc máy giặt là 4.000.000 đồng nhưng anh T không đồng ý và nói chỉ chuyển trước 2.000.000 đồng (hai triệu đồng). T đồng ý và gửi cho anh T số tài khoản 2310220009420 - chủ tài khoản: Nguyễn Xuân T - ngân hàng Agribank chi nhánh thành phố Q. Ngày 12/5/2018 anh T đã chuyển số tiền 2.000.000 đồng vào tài khoản trên. Sau khi nhận được tiền T đã chặn liên lạc với Facebook của anh T. Số tiền chiếm đoạt được, T đã tiêu xài cá nhân hết. Hiện anh T đề nghị xử lý T theo đúng quy định pháp luật và yêu cầu T bồi thường số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng).

Vụ thứ 3: Ngày 15/5/2018 anh Nguyễn Viết T (SN: 1985, Trú tại: Thôn 3, xã N, huyện G, thành phố H) có dùng tài khoản facebook cá nhân của mình là “K” truy cập vào trang facebook “Đồ Nhật Bãi” để tìm mua máy giặt. Khi tìm kiếm anh T thấy facebook “Đ.L” (tài khoản facebook của Nguyễn Xuân T, trước đó facebook này tên là “Nguyễn T”) đăng nội dung bán máy giặt nên anh T có nhắn tin qua facebook cho tài khoản này. Anh T hỏi mua chiếc máy giặt nhãn hiệu National 1200 thì được T báo giá là 8.500.000 đồng (tám triệu năm trăm nghìn đồng). Lúc này T yêu cầu anh T chuyển trước 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng) nhưng anh T chỉ đồng ý chuyển trước 2.000.000 đồng (hai triệu đồng). T đồng ý rồi gửi cho anh T số tài khoản 2310220009420 - ngân hàng Agribank - chủ tài khoản Nguyễn Xuân T. Sau đó anh T có chuyển khoản 2.000.000 đồng vào số tài khoản trên. Sau khi nhận được tiền T đã chặn liên lạc với Facebook và số điện thoại của anh T. Số tiền chiếm đoạt được, T đã tiêu xài cá nhân hết. Hiện anh T đề nghị xử lý T theo đúng quy định của pháp luật và yêu cầu T bồi thường số tiền 2.000.000 đồng .

Vụ thứ 4: Ngày 15/6/2018 anh Nguyễn Anh N (SN: 1972; Trú tại: T, xã N, huyện T, thành phố H) sử dụng facebook cá nhân mang tên “Nguyễn Anh N” truy cập vào trang facebook “Đồ Nhật Bãi” để tìm mua tủ lạnh. Khi đang tìm kiếm anh Ninh thấy facebook “Đ.L” (tài khoản facebook của Nguyễn Xuân T) đăng bài với nội dung bán tủ lạnh nên anh N có nhắn tin qua facebook cho tài khoản này. Anh N có hỏi chiếc tủ lạnh Toshiba GR-D5OF(NT) thì được T báo giá là 10.500.000 đồng (mười triệu năm trăm nghìn đồng). Sau đó anh N và T thống nhất giá chiếc tủ lạnh trên là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng). T có gửi cho anh N số điện thoại 01675140418 để liên lạc và yêu cầu anh N chuyển khoản số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) là tiền đặt cọc vào tài khoản số 0051000516465 - chủ tài khoản: Lê Phước Đ - ngân hàng Vietcombank chi nhánh Q , tỉnh B, là tài khoản của người quen của T. Ngày 20/6/2018 anh N có chuyển số tiền trên vào tài khoản T đã cho. Sau khi nhận được tiền do Lê Phước Đ chuyển, T đã chặn liên lạc Facebook và điện thoại với anh N. Số tiền chiếm đoạt được, T đã tiêu xài cá nhân hết. Hiện anh N đề nghị xử lý T theo đúng quy định của pháp luật và yêu cầu T bồi thường số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng)

Vụ thứ 5: Ngày 19/6/2018 anh Tạ Văn Th (SN: 1976; Trú tại: Hồng Đức, Ninh Giang, Hải Dương) sử dụng facebook cá nhân mang tên “Thang ta” truy cập vào trang facebook “ Đồ Nhật Bãi” để tìm mua máy giặt. Khi tìm kiếm, anh Th thấy tài khoản facebook “Nguyễn Thành” (là tài khoản facebook của Nguyễn Xuân T) có đăng bài với nội dung bán tủ lạnh, điều hòa nên anh Th có nhắn tin qua facebook cho T, hỏi mua chiếc tủ lạnh nhãn hiệu Toshiba GR-D5OF và chiếc điều hòa Daikin - 1200 BTU thì được T báo giá lần lượt là 11.000.000 đồng (mười một triệu đồng) và 5.000.000 đồng (năm triệu đồng), tổng là 16.000.000 đồng (mười sáu triệu đồng). T yêu cầu anh Th chuyển trước 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) vào tài khoản số : 0051000516465 - chủ tài khoản: Lê Phước Đ - ngân hàng Vietcombank chi nhánh thành phố Q để đặt cọc. Sau đó anh Th đã chuyển khoản 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) vào số tài khoản trên. Sau khi nhận được tiền từ Lê Phước Đ, T đã chặn liên lạc với Facebook của anh Th. Số tiền chiếm đoạt được, T đã tiêu xài cá nhân hết. Hiện anh Th đề nghị xử lý T theo đúng quy định của pháp luật và yêu cầu T bồi thường số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).

Vụ thứ 6: Ngày 26/9/2018 anh Vũ Ngọc T (SN: 1983; Trú tại: Khu 9, Cổ Tiết, Tam Nông, Phú Thọ) sử dụng tài khoản facebook cá nhân tên là: “Vũ Ngọc T” truy cập vào trang “Đồ Bãi Nhật” để tìm mua tủ lạnh. Khi đang tìm kiếm anh Th thấy facebook “T.N” (tài khoản facebook của Nguyễn Xuân T) có đăng bài bán tủ lạnh nên có nhắn tin qua facebook T. Anh Th hỏi chiếc tủ lạnh Hitachi R-SF480CM thì được T báo giá là 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng). Lúc này T có gửi cho anh Th số điện thoại 0933060151 để T nói chuyện cụ thể với anh Th. T yêu cầu anh Th chuyển khoản trước 7.500.000 đồng (bảy triệu năm trăm nghìn đồng) vào tài khoản số : 19032876718014 - chủ tài khoản: Nguyễn Xuân T - ngân hàng Techcombank chi nhánh thành phố H. Nhưng đến ngày 27/9/2018 anh Th chỉ chuyển 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) vào tài khoản trên và nói khi nào nhận được hàng sẽ chuyển nốt số tiền còn lại. Sau khi nhận được tiền T đã chặn liên lạc qua Facebook, qua điện thoại với anh Th. Số tiền chiếm đoạt được, T đã tiêu xài cá nhân hết. Hiện anh Th đề nghị xử lý T theo đúng quy định của pháp luật và yêu cầu T bồi thường số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng)

Vụ thứ 7: Ngày 27/9/2018 anh Nguyễn Chí D (SN: 1969; Trú tại:phường C, thành phố H, tỉnh Q) sử dụng facebook cá nhân tên là “Nguyễn Chí D” truy cập vào trang “Đồ Nhật Bãi” để tìm mua tủ lạnh. Khi tìm kiếm anh D thấy facebook “Đức Lê” (tài khoản facebook của Nguyễn Xuân T) đăng bài bán tủ lạnh nên anh D có nhắn tin qua facebook cho T. Anh D hỏi chiếc tủ lạnh nhãn hiệu Hitachi R-SF480CM thì được T báo giá là 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) . Sau khi thống nhất về giá cả thì T yêu cầu anh D chuyển khoản trước cho T số tiền 7.500.000 đồng (bảy triệu năm trăm nghìn đồng) vào tài khoản Viettel thành phố Huế - số điện thoại 0933060151 - mang tên Nguyễn Xuân T hoặc tài khoản số : 19032876718014 - chủ tài khoản: Nguyễn Xuân T - ngân hàng Techcombank, chi nhánh thành phố H. Sau đó anh D đã chuyển khoản 7.500.000 đồng (bảy triệu năm trăm nghìn đồng) vào tài khoản số : 19032876718014 - chủ tài khoản: Nguyễn Xuân T - ngân hàng Techcombank, chi nhánh thành phố H. Sau khi nhận được tiền T đã chặn liên lạc với Facebook của anh D . Số tiền chiếm đoạt được T đã tiêu xài cá nhân hết. Hiện anh D đề nghị xử lý T theo đúng quy định của pháp luật và yêu cầu T bồi thường số tiền 7.500.000 đồng (bảy triệu năm trăm nghìn đồng)

Vụ thứ 8: Ngày 29/9/2018 anh Đỗ Chiến Th (SN: 1972; Trú tại: 23 -B2 -CT4 Khu đô thị V, quận H, thành phố H) sử dung facebook cá nhân mang tên : “C.T.D” truy cập vào trang “ Đồ Nhật Bãi” để tìm mua đồ gia dụng. Khi đang tìm kiếm thì anh Th thấy facebook “T.N” (tài khoản facebook của Nguyễn Xuân T) có đăng bài với nội dung rao bán tủ lạnh, điều hòa, máy giặt, bếp từ, nồi cơm điện nên anh Th có nhắn tin qua facebook cho T. Sau đó T có nhắn cho anh Th số điện thoại 0933060151 để nói chuyện, và sử dụng tài khoản Zalo của mình, tên“Tttt”- số điện thoại 01644828543, mời kết bạn với anh Th để gửi ảnh đồ gia dụng cho anh Th xem. Anh Th đồng ý mua 06 tủ lạnh Misubishi MR-JX61X-W, đời 2014; 01 tủ lạnh Toshiba GR-D50FNT, đời 2011; 01 máy giặt Panasonic NA-VX7500L, đời 2015; 02 máy giặt Toshiba TW-296X1L, đời 2014; 05 nồi cơm điện Panasonic SR-WSX187S; 03 bếp từ hiệu Panasonic Size 75. Tổng số tiền lô hàng này là 112.000.000 đồng (một trăm mười hai triệu đồng). T yêu cầu anh Th phải chuyển trước 24.000.000 đồng (hai mươi tư triệu đồng) vào số tài khoản 19032876718014 - chủ tài khoản : Nguyễn Xuân T - ngân hàng Techcombank chi nhánh thành phố H. Anh Th đã chuyển 24.000.000 đồng (hai mươi tư triệu đồng) vào số tài khoản trên. Khi nhận được tiền T đã chặn liên lạc Facebook, điện thoại với anh Th. Số tiền chiếm đoạt được, T đã tiêu xài cá nhân hết. Hiện anh Th đề nghị xử lý T theo đúng quy định của pháp luật và yêu cầu T bồi thường số tiền 24.000.000 đồng (hai mươi tư triệu đồng).

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Xuân T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã xác định và triệu tập Lê Phước Đ (sinh 1960, trú tại: thôn H, xã N, huyện Q, tỉnh B) là chủ tài khoản số : 0051000516465 - ngân hàng Vietcombank chi nhánh thành phố Q, đã nhận số tiền 20.000.000 đồng do các anh Tạ Văn Th và Nguyễn Anh N chuyển. Tại cơ quan điều tra, anh Đ khai: anh Đ quen T từ khoảng năm 2015, khi T là thủy thủ tàu V ACE. Khoảng tháng 4/2018 T hỏi mượn anh Đ số tài khoản ngân hàng Vietcombank, nói để bạn chuyển tiền, anh Đ đã đồng ý. Trong tháng 6/2018, anh Đ đã nhận 02 lần, mỗi lần 10.000.000 đồng, vào tài khoản của mình. Sau khi nhận số tiền trên, theo hướng dẫn của T, anh Đ đã chuyển vào tài khoản cho T, mỗi lần 9.500.000 đồng, còn 1.000.000 đồng, T nói cho anh Đ. Hiện anh Lê Phước Đ đã tự nguyện nộp cho cơ quan điều tra số tiền 1.000.000 đồng. Tài liệu điều tra không đủ căn cứ xác định Lê Phước Đ cùng thực hiện hành vi phạm tội với Nguyễn Xuân T nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Cơ quan cảnh sát điều tra- công an quận Đ đã thu giữ của Nguyễn Xuân T: 01 (một) giấy thông hành xuất nhập cảnh số H0943868 mang tên Nguyễn Tùng L, 01 (một) hộ chiếu số C5010314 mang tên Nguyễn Tùng L, 01(một) giấy chứng minh nhân dân số 141996727 mang tên Đoàn Văn T, 01 (một) căn cước công dân số 030090005116 mang tên Nguyễn Xuân T, 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 số 300154000221 mang tên Nguyễn Xuân T, 01 (một) thẻ khách hàng Vingroup số 8888200780719548, 01 (một) giấy thông hành xuất nhập cảnh số H0943867 mang tên Nguyễn Xuân T. Xác định số đồ vật trên không liên quan đến hành vi phạm tội của T nên Cơ quan cảnh sát điều tra-Công an quận Đ đã tiến hành trao trả cho bố của Nguyễn Xuân T là ông Nguyễn Văn K ( sinh năm 1967, trú tại C, xã G, huyện G, tỉnh H).

Tại bản cáo trạng số 189/CT-VKS ngày 02/07/2019, Viện kiểm sát nhân dân Quận Đ truy tố Nguyễn Xuân T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là phạm tội và ăn năn hối cải. Bị cáo hứa sẽ tác động gia đình bồi thường cho người bị hại số tiền mà bị cáo đã chiếm đoạt. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố sau khi phân tích đánh giá tính chất mức độ phạm tội của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 2 điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điểm g khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự- Xử phạt bị cáo từ 30 đến 36 tháng tù. Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Phạm Chí T số tiền 4.800.000 đồng; bồi thường cho anh Hồ Tùng L số tiền 30.000.000 đồng; bồi thường cho anh Hoàng Duy T số tiền 2.000.000 đồng; bồi thường cho anh Nguyễn Viết T số tiền 2.000.000 đồng; bồi thường cho ông Nguyễn Anh N số tiền 10.000.000 đồng; bồi thường cho ông Tạ Văn Th số tiền 10.000.000 đồng, bồi thường cho anh Vũ Ngọc Th số tiền 2.000.000 đồng; bồi thường cho ông Nguyễn Chí D số tiền 7.500.000 đồng; bồi thường cho ông Đỗ Chiến Th số tiền 24.000.000 đồng; Tịch thu tiêu hủy 02 thẻ Ngân hàng mang tên Nguyễn Xuân T; Tịch thu nộp ngân sách Nhà Nước 02 điện thoại.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm; Bị cáo và các bị hại, nguyên đơn dân sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Lời khai nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nhân chứng, biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu; Bản kết luận giám định... có đủ cơ sở khẳng định: Trong khoảng thời gian từ tháng 3/2018 đến tháng 9/2018, Nguyễn Xuân T dùng thủ đoạn sử dụng các hình ảnh, thông tin về các mặt hàng điện tử, điện lạnh cũ, rồi thông qua các tài khoản Facebook “ Q.A”, “ Đ.L”, “ T.N” “ N.T” “ Tr.N” và tài khoản Zalo “Tttt” của mình, đăng bài rao bán trên các nhóm mua bán đồ điện tử, điện lạnh cũ trên mạng xã hội Facebook, Zalo. Khi có người đặt mua hàng, T yêu cầu chuyển trước tiền đặt cọc vào các tài khoản ngân hàng của mình. Sau khi nhận được tiền của người mua hàng, T chặn liên lạc với những người này để chiếm đoạt số tiền đã nhận. Quá trình điều tra xác định Nguyễn Xuân T đã thực hiện 09 vụ lừa đảo, chiếm đoạt tổng số tiền 92.300.000 đồng của anh Phạm Chí T, anh Hồ Tùng L, anh Hoàng Duy T, anh Nguyễn Viết T, ông Tạ Văn Th, ông Nguyễn Anh N, anh Vũ Ngọc Th, ông Nguyễn Chí D và ông Đỗ Chiến Th.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 điều 174 Bộ luật hình sự.

Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân quận Đ, thành phố H truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác gây mất trật trị an địa phương. Vì vậy, cần phải ra một bản án nghiêm khắc mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

[3] Các T tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

T tiết tăng nặng: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội 02 lần trở lên được quy định tại điểm g khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự.

T tiết giảm nhẹ: Bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, bị cáo lần đầu bị đưa ra xét xử, bị cáo đầu thú là các T tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về những vấn đề khác: Căn cứ điều 48 Bộ luật hình sự; điều 106, điều 136, điều 331, điều 333- Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Luật thi hành án dân sự.

Về dân sự:

XÐt yªu cÇu cña các bị hại, nguyên đơn dân sự đối với số tiền đã bị chiếm đoạt là chính đáng. Vì vậy, buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Phạm Chí T số tiền 4.800.000 đồng; bồi thường cho anh Hồ Tùng L số tiền 30.000.000 đồng; bồi thường cho anh Hoàng Duy T số tiền 2.000.000 đồng; bồi thường cho anh Nguyễn Viết T số tiền 2.000.000 đồng; bồi thường cho ông Nguyễn Anh N số tiền 10.000.000 đồng; bồi thường cho ông Tạ Văn Th số tiền 10.000.000 đồng, bồi thường cho anh Vũ Ngọc Th số tiền 2.000.000 đồng; bồi thường cho ông Nguyễn Chí D số tiền 7.500.000 đồng; bồi thường cho ông Đỗ Chiến Th số tiền 24.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 (một) thẻ ngân hàng Techcombank mang tên NGUYEN XUAN T số thẻ 9704078881677963; 01 (một) thẻ ngân hàng BIDV mang tên NGUYEN XUAN T số thẻ 5119570156699109 bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Viettel V6305 số IMEI 1: 352812062391786, số IMEI 2: 352812062391794 lắp sim số không xác định (sim đã hỏng), không liên quan đến việc phạm tội, bị cáo cho biết điện thoại đã hỏng từ trước khi thu giữ, không có nhu cầu lấy lại nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S màu xám số IMEI : 358809057520829, lắp sim số 0933066151 bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà Nước.

Đối với số tiền 1.000.000 đồng, thu giữ của Lê Phước Đ là số tiền do phạm tội mà có nên tịch thu nộp ngân sách Nhà Nước.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bị cáo, các bị hại, nguyên đơn dân sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Từ lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Nguyễn Xuân T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Căn cứ: điểm c khoản 2, điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điểm g khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Nguyễn Xuân T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/01/2019.

Căn cứ: điều 47, điều 48 Bộ luật hình sự; điều 106, điều 136, điều 331, điều 333- Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Luật thi hành án dân sự.

Buộc Nguyễn Xuân T bồi thường cho anh Phạm Chí T số tiền 4.800.000 (bốn triệu tám trăm nghìn) đồng;

Buộc Nguyễn Xuân T bồi thường cho anh Hồ Tùng L số tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng;

Buộc Nguyễn Xuân T bồi thường cho anh Hoàng Duy T số tiền 2.000.000 (hai triệu) đồng;

Buộc Nguyễn Xuân T bồi thường cho anh Nguyễn Viết T số tiền 2.000.000 (hai triệu) đồng;

Buộc Nguyễn Xuân T bồi thường cho ông Nguyễn Anh N số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng;

Buộc Nguyễn Xuân T bồi thường cho ông Tạ Văn T số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng;

Buộc Nguyễn Xuân T bồi thường cho anh Vũ Ngọc Th số tiền 2.000.000 (hai triệu) đồng;

Buộc Nguyễn Xuân T bồi thường cho ông Nguyễn Chí D số tiền 7.500.000 (bảy triệu năm trăm nghìn) đồng;

Buộc Nguyễn Xuân T bồi thường cho ông Đỗ Chiến Th số tiền 24.000.000 (hai mươi tư triệu) đồng.

Khi b¶n ¸n cã hiÖu lùc ph¸p luËt hoÆc kÓ tõ ngµy cã ®¬n yªu cÇu thi hµnh ¸n cña ng­êi ®­îc thi hµnh ¸n cho ®Õn khi thi hµnh xong tÊt c¶ c¸c kho¶n tiÒn, hµng th¸ng bªn ph¶i thi hµnh ¸n cßn ph¶i chÞu kho¶n tiÒn l·i cña sè tiÒn cßn ph¶i thi hµnh ¸n theo møc l·i suÊt c¬ b¶n do Ng©n hµng Nhµ n­íc quy ®Þnh t­¬ng øng víi thêi gian ch­a thi hµnh ¸n.

Trong tr­êng hîp quyÕt ®Þnh ®­îc thi hµnh theo quy ®Þnh t¹i §iÒu 2 LuËt thi hµnh ¸n d©n sù, ng­êi ®­îc thi hµnh ¸n d©n sù, ng­êi ph¶i thi hµnh ¸n d©n sù cã quyÒn tháa thuËn thi hµnh ¸n, quyÒn yªu cÇu thi hµnh ¸n, tù nguyÖn thi hµnh ¸n hoÆc bÞ c­ìng chÕ thi hµnh ¸n theo quy ®Þnh t¹i c¸c ®iÒu 6,7,9 LuËt thi hµnh ¸n d©n sù ; Thêi hiÖu thi hµnh ¸n ®­îc thùc hiÖn theo quy ®Þnh t¹i §iÒu 30 LuËt thi hµnh ¸n d©n sù.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) thẻ ngân hàng Techcombank mang tên NGUYEN XUAN T số thẻ 9704078881677963; 01 (một) thẻ ngân hàng BIDV mang tên NGUYEN XUAN T số thẻ 5119570156699109; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Viettel V6305 số IMEI 1: 352812062391786, số IMEI 2: 352812062391794 lắp sim số không xác định (sim đã hỏng).

Tịch thu nộp ngân sách Nhà Nước: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S màu xám số IMEI : 358809057520829, lắp sim số 0933066151.

Hiện các vật chứng trên đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Đ (Biên bản giao nhận vật chứng số: 233 ngày 11/07/2019);

Tịch thu nộp ngân sách Nhà Nước: số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) hiện đang được lưu giữ tại Kho bạc Nhà Nước Đ theo tài khoản 39491049185 của Chi cục thi hành án dân sự quận Đ (Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 05/07/2019).

Bị cáo phải chịu 200.000(Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm;

Bị cáo phải chịu 4.615.000(Bốn triệu sáu trăm mười lăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Các bị hại, nguyên đơn dân sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Các bị hại, nguyên đơn dân sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.

Cỡ chữ