vanban.org

Bản án 2055/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 30/11/2022 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tuấn Dzủ T.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Tuấn Dzủ T được ly hôn với bà Nguyễn Thị Mỹ H. Về việc nuôi con: Có hai người con tên Nguyễn Minh Bảo N, sinh ngày 18/9/1985 và Nguyễn Tuấn Đăng K, sinh ngày 21/11/1991 đều đã trưởng thành. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "LY HÔN"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tuấn Dzủ T.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 2055/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 30/11/2022
V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Quách Thanh Bình

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phan Thanh Minh

2. Bà Đặng Thị Huệ Tú

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Vân - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Xuân Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 299/2021/TLST-HNGĐ ngày 30/12/2021 về tranh chấp “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5160/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 03/10/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 14939/2022/QĐST-HNGĐ ngày 03/11/2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Tuấn Dzủ T, sinh năm 1954 (vắng mặt)

Địa chỉ: X1 đường số Đ1, phường P1, quận Q1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ H, sinh năm 1957 (vắng mặt)

Quốc tịch: Việt Nam.

Địa chỉ: USA.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 12/11/2021, bản tự khai, nguyên đơn - ông Nguyễn Tuấn Dzủ T trình bày:

Ông và bà Nguyễn Thị Mỹ H kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 94, quyển số X2 do Ủy ban nhân dân phường P2 (cũ), quận Q2, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 20/12/1984. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống đến năm 2008 thì cả hai được cha mẹ bà H bảo lãnh sang Mỹ theo diện đoàn tụ; năm 2012 ông trở về Việt Nam còn bà H vẫn tiếp tục sống ở Mỹ. Từ đó vợ chồng xa cách, tình cảm không còn, không quan tâm đến nhau. Nay nhận thấy cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, đời sống chung không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông đề nghị Tòa án cho ông được ly hôn với bà H để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Ông và bà H chung sống có hai người con là Nguyễn Minh Bảo N, sinh ngày 18/9/1985 và Nguyễn Tuấn Đăng K, sinh ngày 21/11/1991, cả hai đều đã trưởng thành.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Tại phiên tòa sơ thẩm,

* Ông Nguyễn Tuấn Dzủ T có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt.

* Bà Nguyễn Thị Mỹ H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Đồng thời bà H cũng không có văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu xin ly hôn của ông Thông.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Ông Nguyễn Tuấn Dzủ T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và bà Nguyễn Thị Mỹ H vắng mặt dù đã được tống đạt hợp lệ nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng theo quy định của pháp luật.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của ông Nguyễn Tuấn Dzủ T:

+ Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Tuấn Dzủ T được ly hôn với bà Nguyễn Thị Mỹ H.

+ Về việc nuôi con: Quá trình chung sống có hai người con là Nguyễn Minh Bảo N, sinh ngày 18/9/1985 và Nguyễn Tuấn Đăng K, sinh ngày 21/11/1991.

+ Về chia tài sản và nợ chung: Không có.

+ Về án phí: Ông Nguyễn Tuấn Dzủ T phải chịu án phí 300.000 đồng theo luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về áp dụng pháp luật tố tụng:

- Ngày 12/11/2021, ông Nguyễn Tuấn Dzủ T khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn Thị Mỹ H. bà H hiện đang cư trú tại Hoa Kỳ, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Ông Nguyễn Tuấn Dzủ T có đơn xin xét xử vắng mặt. Bà Nguyễn Thị Mỹ H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; điểm b khoản 5 Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.

Về áp dụng pháp luật nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Tuấn Dzủ T và bà Nguyễn Thị Mỹ H kết hôn và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 94, quyển số X2 do Ủy ban nhân dân phường P2, quận Q2, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 20/12/1984, nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Ông Thông cho rằng vợ chồng không còn quan tâm đến nhau, không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được do thời gian xa cách đã lâu. Về phía bà H, Tòa án đã tiến hành ủy thác tư pháp theo đúng thủ tục luật định nhưng bà H cũng không có văn bản trả lời về yêu cầu xin ly hôn của ông Thông. Do đó, có cơ sở xác định ông Thông và bà Nguyễn Thị Mỹ H đã không còn tình cảm với nhau, không quan tâm chăm sóc, giúp đỡ nhau, vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào Điều 19, Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu của ông Thông về việc xin ly hôn với bà H.

- Về con chung: Căn cứ bản sao Giấy khai sinh số 89/1985P09 và 187/1991 do Ủy ban nhân dân Phường 5, quận Q2, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 15/11/2022 thì Nguyễn Minh Bảo N, sinh ngày 18/9/1985 và Nguyễn Tuấn Đăng K, sinh ngày 21/11/1991 là con của ông Nguyễn Tuấn Dzủ T và bà Nguyễn Thị Mỹ H, cả hai đều đã trưởng thành, các đương sự không yêu cầu giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung : Không có.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Ông Thông phải chịu án phí đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, khoản 1 Điều 273, điểm b khoản 5 Điều 477 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 57 và Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Tuấn Dzủ T.

- Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Tuấn Dzủ T được ly hôn với bà Nguyễn Thị Mỹ H.

- Về việc nuôi con: Có hai người con tên Nguyễn Minh Bảo N, sinh ngày 18/9/1985 và Nguyễn Tuấn Đăng K, sinh ngày 21/11/1991 đều đã trưởng thành.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

2. Ông Nguyễn Tuấn Dzủ T phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí mà ông Nguyễn Tuấn Dzủ T đã nộp theo biên lai số X3 ngày 17/12/2021 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Nguyễn Tuấn Dzủ T đã nộp đủ án phí.

3. Ông Nguyễn Tuấn Dzủ T có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 (mười lăm) ngày; bà Nguyễn Thị Mỹ H có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 01 (một) tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ