- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị H - Hà Ngọc T"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 205/2026/ST–HNGĐ Ngày 29 tháng 6 năm 2026 “V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - TỈNH NGHỆ AN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hà Văn Hải. Các hội thẩm nhân dân: Bà Trần Hải Yến, bà Nguyễn Thị Ngà. Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Linh - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 9
- Nghệ An. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Phan Thị Thanh Hoa - Kiểm sát viên. Ngày 29 tháng 6 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 9 – tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 53/2026/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2026 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2026/QĐXX-ST ngày 17 tháng 6 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H - sinh ngày 18/11/1996 - CCCD xxxxxxxxxxxx. Trú tại: Thôn Đ, xã A, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt - Có đơn xin vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Hà Ngọc T - sinh ngày 17/01/1996 – CCCD xxxxxxxxxxxx. Trú tại: Thôn Đ, xã A, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn và trong quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị Nguyễn Thị H và anh Hà Ngọc T kết hôn vào ngày 16/3/2016, đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện A, tỉnh Nghệ An (nay là xã A, tỉnh Nghệ An), việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cãi vã, không tin tưởng nhau, mặc dù vợ chồng đã rất cố gắng hàn gắn tình cảm, gia đình cũng đã hòa giải nhưng vợ chồng vẫn không thể hòa hợp được. Chị H và anh T từ tháng 02 năm 2024 cho đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên chị H làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Hà Ngọc T. Về con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Hà Ngọc T có 02 con chung là Hà Ngọc T1, sinh ngày: 03/11/2017 và Hà Ngọc Minh P, sinh ngày: 04/4/2019. Nay ly hôn chị H có nguyện vọng nuôi cả hai con và không yêu cầu anh Hà Ngọc T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Vợ chồng chị H không nợ tổ chức, cá nhân nào và cũng không ai nợ vợ chồng chị.
Quá trình giải quyết vụ án, cháu Hà Ngọc T1 và Hà Ngọc Minh P có ý kiến: Cháu có nguyện vọng ở với mẹ Nguyễn Thị H.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, anh Hà Ngọc T đều vắng mặt, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập nhiều lần nên Tòa án không thể tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định tại Điều 204; 207; 208 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 - Nghệ An phát biểu ý kiến theo quy định tại Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự như sau:
- Về tố tụng: + Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. + Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng; nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H; Về con chung: Giao con chung là Hà Ngọc T1, sinh ngày: 03/11/2017 và Hà Ngọc Minh P, sinh ngày: 04/4/2019 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành, về cấp dưỡng nuôi con: chị Nguyễn Thị H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung của vợ chồng chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét; Về án phí: chị H phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình, bị đơn hiện cư trú tại Thôn Đ, xã A, tỉnh Nghệ An nên Tòa án nhân dân Khu vực 9 – Nghệ An thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Qua xác minh tình trạng hôn nhân của chị Nguyễn Thị H và anh Hà Ngọc T tại Ủy ban nhân dân xã A, tỉnh Nghệ An cho biết, sau khi kết hôn vợ chồng chị H sinh sống tại Thôn Đ, xã A, tỉnh Nghệ An được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân cụ thể thì chính quyền địa phương không biết, hiện tại vợ chồng chị H đang sống ly thân. Quá trình chung sống vợ chồng anh S không có con chung, hiện tại anh T không có mặt ở địa phương đi đâu, làm gì, địa chỉ cụ thể thì chính quyền, địa phương không biết. Trước khi đi anh T không khai báo thủ tục cắt thường trú. Như vậy, bị đơn anh Hà Ngọc T vắng mặt nơi cư trú mà không rõ thời điểm trở về và cũng không xác định được nơi cư trú mới. Theo quy định tại Điều 40; điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự thì được coi là cố tình che giấu địa chỉ nên Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tụng chung là phù hợp với hướng dẫn tại điểm a khoản 2 Điều 6 nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Hà Ngọc T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập để trình bày ý kiến; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh Hà Ngọc T theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Hà Ngọc T không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện nên Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn đã giao nộp và Tòa án thu thập được để giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 96 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Xét thấy chị Nguyễn Thị H và anh Hà Ngọc T đăng ký kết hôn vào ngày 16/03/2016, đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện A, tỉnh Nghệ An (nay là xã A, tỉnh Nghệ An), việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm quy định về điều kiện và thủ tục kết hôn theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh T là hợp pháp. Tuy nhiên trong quá trình chung sống vợ chồng chị H, anh T phát sinh nhiều mâu thuẫn và sống ly thân với nhau từ năm 2024 cho đến nay, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, như vậy chị H và anh T đã vi phạm tình nghĩa vợ chồng.
Tại phiên tòa anh Hà Ngọc T vắng mặt không có ý kiến trình bày nhưng qua xác minh tại địa phương và gia đình cho biết: Chị H và anh T có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện A, tỉnh Nghệ An (Nay là UBND xã A, tỉnh Nghệ An) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 26/2016 ngày 16/3/2016, hiện tại vợ chồng sống ly thân từ năm 2024 cho đến nay, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Hiện tại anh T không có mặt ở địa phương, không đăng ký thay đổi nơi cư trú. Xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị H và anh Hà Ngọc T không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H, xét cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Hà Ngọc T. Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng chị Nguyễn Thị H và anh Hà Ngọc T có 02 con chung là Hà Ngọc T1, sinh ngày: 03/11/2017 và Hà Ngọc Minh P, sinh ngày: 04/4/2019. Xét chị Nguyễn Thị H có nguyện vọng nuôi cả hai con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, anh Hà Ngọc T không có mặt tại địa phương và không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H. Trong quá trình giải quyết vụ án, cháu Hà Ngọc T1 và Hà Ngọc Minh P có nguyện vọng ở cùng chị Nguyễn Thị H. Xét nguyện vọng chị Nguyễn Thị H, các con Hà Ngọc T1 và Hà Ngọc Minh P là phù hợp, có căn cứ nên cần chấp nhận. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên căn cứ vào khoản 1 Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải nộp án phí ly hôn theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 207; Điều 227; Điều 228; Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Hà Ngọc T và chấm dứt quan hệ hôn nhân kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Giao con chung Hà Ngọc T1, sinh ngày: 03/11/2017 và Hà Ngọc Minh P, sinh ngày: 04/4/2019 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi, trưởng thành. Anh Hà Ngọc T có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở, vì lợi ích mọi mặt của con khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi cấp dưỡng nuôi con hoặc người trực tiếp nuôi con. Chị Nguyễn Thị H cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí: Áp dụng khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, chị Nguyễn Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí anh S đã nộp 300.000 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9, tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tiền số 0001271 ngày 27/02/2026.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND khu vực 9; - THADS tỉnh Nghệ An; - Nguyên đơn, bị đơn; - UBND xã Anh Sơn; - Lưu hồ sơ -VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Hà Văn Hải |