vanban.org

Bản án 205/2025/HSST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 7 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 09/12/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Dương Văn C phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Áp dụng: Điểm a, khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Dương Văn C 28 ( Hai mươi tám ) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 18/9/2025. Về án phí: Áp dụng điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí T… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Văn C phạm tội Sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Dương Văn C phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Áp dụng: Điểm a, khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 - HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 205/2025/HSST
Ngày: 09/12/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Định;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Kiều Xuân Mai và bà Dương Thị Kim Lan.

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Quang Đạo - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 7 – Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Tạ Ngọc Sang - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 09/12/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 – Hà Nội xét xử sơ vụ án hình sự thụ lý số: 228/2025/TLST-HS ngày 26 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 228/2025/QĐXXST-HS ngày 26/11/2025 đối với bị cáo: * Họ và tên: Dương Văn C, sinh năm 1974; Tên gọi khác: Không. Nơi ĐKHKTT và cư trú: Thôn T, xã Đ, thành phố Hà Nội; trình độ học vấn: 07/12; nghề nghiệp: Tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không. Bố đẻ: Dương Văn Ư (đã chết); Mẹ đẻ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1946; vợ: Nguyễn Thị L1, sinh năm 1977; con: Có 02 con: Lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 2000. Tiền án, tiền sự: Không. Theo chỉ bản số 4476 lập ngày 17 tháng 9 năm 2025 tại Trại giam S thuộc Công an thành phố H và Trích lục tiền án, tiền sự số: /2025/PV06 ngày 14/10/2025 tại Phòng hồ sơ nghiệp vụ, Công an thành phố H.

Nhân thân: + Ngày 12/6/1997 bị Tòa án nhân dân Tối Cao xử phạt 03 năm tù về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 2, Điều 205 – BLHS tại Bản án số: 877/1997/HSPT , bị cáo đã chấp hành xong các quyết định của bản án và đã được xóa án tích;

+ Ngày 25/3/2013, bị Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xử phạt 07 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1, Điều 138 – BLHS, tại Bản án 80/2013/HSST, bị cáo đã chấp hành xong các quyết định của bản án và đã được xóa án tích;

Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 18/9/2025. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 01 – Công an thành phố H. Có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thực hiện công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm về ma túy và quản lý người nghiện ma túy. Ngày 12/9/2025, Công an xã Đ, thành phố Hà Nội, đã triệu tập Dương Văn C - sinh năm: 1974, ở thôn T, xã Đ, Tp Hà Nội là đối tượng đang điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone theo Quyết định số 509/QĐ – TTYT của Trung tâm y tế quận L (Nay là tâm y tế phường V, thành phố Hà Nội) – Sở tế Hà Nội từ ngày 17/7/2017 đến nay, để xét nghiệm chất ma túy bằng phương pháp sử dụng que test mẫu nước tiểu. Kết quả xác định sơ bộ dương tính với chất ma túy loại “Methadone” và “Morphine”

Quá trình điều tra xác định: Do bản thân là đối tượng nghiện chất ma túy, nên khoảng 17h00’ ngày 11/9/2025, C một mình đi lên khu vực P, tỉnh Thái Nguyên để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến nơi, C gặp một người nam giới (không rõ tên, tuổi địa chỉ cụ thể) đang đứng ở rìa đường, C hỏi và mua được 01 gói ma túy loại “Heroine” với giá 100.000đ. Sau khi mua được ma túy, C cất dấu vào trong người, trên đường về nhà C đã sử dụng hết số ma túy đã mua trên. Ngày 12/9/2025, Công an xã Đ đã triệu tập C đến trụ sở để xét nghiệm tìm chất ma túy trong nước tiểu. Kết luận: Mẫu nước tiểu của Dương Văn C gửi giám định có tìm thấy chất ma túy là “Methadone, C1 và M”.

Tại Cơ quan CSĐT – Công an thành phố H, bị can Dương Văn Công khai B thành khẩn toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

* Vật chứng vụ án: Ngày 12/9/2025, Công an xã Đ đã thu giữ: 01 lọ nhựa được đựng trong phong bì dán kín bên trong chứa nước tiểu của Dương Văn C.

Tại bản Kết luận giám định số 5960/KL - KTHS ngày 18/9/2025 của Phòng K1 - Công an thành phố H. Kết luận: Mẫu nước tiểu của Dương Văn C gửi giám định có tìm thấy chất ma túy là M1, C1 và M. Tại bản cáo trạng số: 73/CT-VKS ngày 21/11/2025 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 đã truy tố: Dương Văn C về tội Sử dụng trái phép chất ma tuý, theo điểm a, khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự.

Đại điện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo nội dung bản cáo trạng, sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng: Điểm a, khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;

- Xử phạt Dương Văn C từ 27 tháng đến 30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/9/2025.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại gì, đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến gì về các hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện khu vực 7 – Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Dương Văn Công K nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đầy đủ cơ sở để xác định: Ngày 12/9/2025, tại xã Đ, thành phố Hà Nội, Dương Văn C là đối tượng đang điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone theo Quyết định số 509/QĐ – TTYT về việc bệnh nhân tham gia điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone thời hạn từ ngày 17/7/2017 đến nay của Trung tâm tế quận L – Sở T5 đã có hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy. Kết luận giám định trong nước tiểu của Dương Văn C có tìm thấy chất ma túy là M1, C1 và M.

* Tại bản Kết luận giám định số 5960/KL - KTHS ngày 18/9/2025 của Phòng K1 - Công an thành phố H. Kết luận: Mẫu nước tiểu của Dương Văn C gửi giám định có tìm thấy chất ma túy là M1, C1 và M.

Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Dương Văn C đã phạm vào tội "Sử dụng trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự. Cụ thể: Điều 256a - BLHS quy định:

1. Người nào sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 03 năm:

a) Đang trong thời hạn cai nghiện ma túy hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy;

...;

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, tiếp tay cho các đối tượng mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy, làm tan vỡ bao hạnh phúc gia đình, có tác dụng rất tiêu cực đến sức khỏe người sử dụng ma túy, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân, bị xã hội lên án mạnh mẽ; là nguyên nhân gây ra nhiều loại tội phạm khác như giết người, cướp tài sản và gây ra nhiều tệ nạn xã hội khác, đây cũng là nguyên nhân chính lây lan căn bệnh HIV-AIDS. Đảng và nhà nước ta đã có nhiều chủ trương chính sách, pháp luật để ngăn chặn loại tội phạm này nhưng không những không giảm mà ngày càng có chiều hướng gia tăng. Do đó, cần xét xử hành vi của bị cáo thật nghiêm minh mới có tác dụng răn đe bị cáo và góp phần vào việc đấu tranh, phòng chống tội phạm, đặc biệt là tội phạm về ma túy.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu; bị cáo có 02 tiền án về tội Chống người thi hành công vụ và trộm cắp tài sản, tuy bị cáo đã chấp xong bản án và đã được xóa án tích nhưng bị cáo đã phải chấp hành hình phạt tù trong trại giam một thời gian dài. Tuy nhiên, bị cáo không lấy đó làm bài học, không chịu tu dưỡng cho bản thân, tiếp tục nghiện ma túy và tiếp tục phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy cho bản thân. Điều đó chứng tỏ bị cáo là người có ý thức kém, coi thường pháp luật nên cần xét xử bị cáo một mức hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

- Về tình tiết tăng nặng: Không.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị

thành khẩn, nhận thức được hành vi sai trái của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên cần áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, chiếu cố giảm nhẹ cho bị cáo một phần về hình phạt, điều đó thể hiện được sự khoan hồng của pháp luật nhà nước ta. Tuy nhiên, xét thấy: Cần xử phạt mức hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo bị cáo trở thành người tốt, người có ích cho gia đình và xã hội. Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, cần được xem xét để đưa ra mức hình phạt phù hợp đối với bị cáo. [4] Các vấn đề khác:

- Đối với đối tượng nam giới (không rõ tên, tuổi địa chỉ cụ thể) là người đã bán ma tuý cho C ngày 11/9/2025 tại khu vực P, tỉnh Thái Nguyên, do không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xem xét xử lý theo quy định pháp luật. Nên Hội đồng xét xử không xem xét là phù hợp.

- Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Dương Văn C phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Áp dụng: Điểm a, khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Dương Văn C 28 ( Hai mươi tám ) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 18/9/2025.

2. Về án phí: Áp dụng điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”: Bị cáo Dương Văn C phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm. 3. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các điều 331 và 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ