- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Trường A - phạm tội gây rối trật tự công cộng (điều 318 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Trường A phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 318 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 205/2025/HS-ST Ngày 27/11/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Ngọc Công.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phan Văn Cường.
2. Bà Bùi Thị Thúy Lan.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Duy Long, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Trọng An, Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 190/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 233/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2025, đối với bị cáo:
Đặng Trường A, sinh năm 1992 tại tỉnh An Giang; thường trú: Khóm T, xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Thợ điện; trình độ học vấn: 3/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; giới tính: Nam; con ông Đặng Văn H, sinh năm 1961 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1975; bị cáo có vợ tên Đỗ Thị Thanh T, sinh năm 1993; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 24/7/2025 cho đến ngay; có mặt tại phiên tòa.
* Người tham gia tố tụng khác:
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Nhật L, ông Huỳnh Thanh Q, ông Nguyễn Tấn L1; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Nhật L2 và chị Nguyễn Thị Ngọc T1 là vợ chồng. L2 và chị T1 kết hôn vào ngày 26/5/2024 nhưng 02 người không chung sống cùng nhau. Thời điểm trước khi kết hôn, chị T1 có quan hệ tình cảm với Huỳnh Thanh Q. Sau khi kết hôn giữa chị T1 và Q làm chung tại Công ty TNHH Đ thuộc khu Công Nghiệp T, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) nên hai bên thường gặp nhau và nói chuyện. Do L2 nghi ngờ giữa chị T1 và Q có tình cảm với nhau nên ghen tuông, bực tức.
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 22/6/2024, sau khi tan ca làm việc tại Công ty, Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SYM Attila màu đỏ, biển số 61D1-180.52 đi về, trên đường về Q nghe từ phía sau có tiếng nói “Đập nó”, Q quay lại nhìn thì thấy tên T2 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) điều khiển xe mô tô chở L2 ngồi sau cầm 01 cây gậy ba khúc chạy lên áp sát đánh 02 cái vào vai của Q. Bị đánh, Q tăng ga bỏ chạy đến Cây xăng F thuộc khu phố Đ, phường T thì dừng lại và xuống xe chạy vào Cây xăng lấy 01 cái xẻng có gắn cán cầm dài khoảng 1,5m rồi cầm trên tay để phòng thủ. Thấy Q cầm cái xẻng nên L2 không dám lao vào đánh Q mà lên tiếng đe dọa “Mày nhớ, mày còn làm Công ty nha”, sau đó, L2 lên xe mô tô để T2 điều khiển xe bỏ đi. Sự việc trên không ai bị thương tích, Q chỉ bị xây sát, bầm tím ngoài da.
Do bị Lê Nhật L2 đe dọa, sợ tiếp tục bị đánh nên ngày 23/6/2024, Huỳnh Thanh Q tìm gặp và kể cho Ngô Huỳnh L3 về việc L2 dọa chặn đánh Q trước cổng Công ty, đồng thời nhờ L3 tìm thêm người đến Công ty TNHH Đ để đón Q về lúc 20 giờ 30 phút ngày 24/6/2024. Ngoài ra, Q nói với L3 nếu L2 tiếp tục đánh Q thì nhóm của L3 đánh trả lại thì L3 đồng ý. Sau khi được Q nhờ, L3 rủ Nguyễn Hữu C, Đàm Văn M, Đặng Trường A và Nguyễn Tấn L1 cùng đi đến Công ty TNHH Đ để hỗ trợ đưa Q về thì tất cả đồng ý. Khoảng 20 giờ ngày 24/6/2024, L1, L3, A, C và M điều khiển xe mô tô đến trước Cổng TNHH Điện tử ASTI để đưa Q về và nếu Q bị đánh thì đánh trả lại. Khi đi L3 điều khiển xe Honda Wave, màu đen (không rõ biển số) chở L1 (không cầm theo hung khí), A điều khiển xe Honda Dream, màu đen (không rõ biển số) chạy một mình (không cầm theo hung khí), C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu trắng xanh, biển 61D1-520.04 chở M ngồi sau cầm theo cây sắt dài khoảng 50cm. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi tan ca làm việc, Q điều khiển xe mô tô đi ra cổng Công ty thì được cả nhóm đưa về. Khi nhóm của Q điều khiển xe mô tô từ cổng Công ty TNHH Đ về hướng cổng Khu Công nghiệp T B đang đưa Q về được khoảng 800m thì bất ngờ tên T2 (không rõ nhân thân, lai lịch) điều khiển xe mô tô biển số 60H1 - 196.33 chở L2 ngồi sau cầm 01 con dao tự chế, dài khoảng 30cm, bản rộng khoảng 05cm chạy từ phía sau vượt lên bên trái chém 01 cái vào vai trái của Q rồi tăng ga bỏ chạy. Lúc này, Q hô to “Nó đó”, nghe vậy, L1, L3 và A điều khiển xe mô tô đuổi theo, khi đuổi theo đến Ngã tư đường M - T (trước Cây xăng F) khu phố Đ, phường T, lúc này xe của A đuổi kịp xe T2 và L2, A điều khiển xe mô tô áp sát bên trái, dùng chân phải đạp 01 cái vào đuôi xe của T2 và L2, làm mất lái cả người và xe ngã xuống đường. T2 đứng dậy bỏ chạy bộ về hướng Cầu vượt M - T, còn L2 vừa đứng dậy trên tay đang cầm con dao tự chế, cùng lúc Q điều khiển xe mô tô biển số 61D1-18052 đến đụng thẳng vào người L2 làm L2 ngã xuống đường. Q lấy con dao Thái Lan từ trong túi quần ra đâm một nhát trúng vào vai của L2, L2 dùng dao tự chế chém trả lại nhóm của Q nhưng không trúng ai, còn L1, L3 và A dùng mũ bảo hiểm và nhặt gạch đá ở ven đường ném đuổi đánh L2 và T2. L2 bỏ chạy vào trong 01 xưởng giấy của ông Huỳnh Chí M1, rồi chốt cửa trốn bên trong. Riêng đối với Nguyễn Hữu C điều khiển xe mô tô chở Đàm Văn M chạy phía sau không biết nhóm của Q và L2 đuổi đánh nhau. Khi C và M điều khiển xe mô tô đến Ngã 4 đường M - T thì thấy xe mô tô của Q và A nằm ở đường, còn xe của L3 dựng ở gần đó nhưng không thấy người nên C chở M quay về chỗ nhà trọ của L1 nhưng không thấy ai. C điều khiển xe mô tô chở M quay lại Ngã 4 đường M - T thì gặp Q, A, L3, L1 đang dựng xe mô tô lên để đi về, C và M không tham gia đuổi đánh nhau.
* Tại Bản kết luận giám định số: 446/2024/KLGĐ-TTPY ngày 30/7/2024 của Trung tâm pháp y, Sở y tế tỉnh B, mục IV kết luận:
1. Các kết quả chính:
- Vết thương vai phải 2 x 0,5cm, sẹo lành.
2. Kết luận:
2.1 Căn cứ Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của: Lê Nhật L2 tại thời điểm giám định là: 01% (Một phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
2.2. Kết luận khác:
* Cơ chế hình thành thương tích:
- Vết thương, khả năng do vật sắc gây ra.
* Tại Bản kết luận giám định số: 475/2024/KLGĐ-TTPY ngày 12/8/2024 của Trung tâm pháp y, Sở y tế tỉnh B, mục IV kết luận:
1. Các kết quả chính:
- Vết thương vùng bả vai trái 5 x 0,4cm, sẹo lành.
2. Kết luận:
2.1 Căn cứ Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của: Huỳnh Thanh Q tại thời điểm giám định là: 02% (Hai phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
2.2. Kết luận khác:
* Cơ chế hình thành thương tích:
Vết thương, khả năng do vật sắc gây ra.
Ngày 04/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, đối với Lê Nhật L2, Huỳnh Thanh Q, Nguyễn Tấn L1 về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại biểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Ngày 21/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương ra Quyết định khởi tố bị can và ra Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Đặng Trường A về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại biểm b khoản 2, Điều 318 Bộ luật Hình sự và ra Lệnh bắt bị can để tạm giam, do bị can bỏ trốn nên Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D ra Quyết định truy nã.
Ngày 24/7/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H bắt giữ Đặng Trường A, theo Quyết định truy nã số: 1335/QĐTN-CSHS ngày 04/3/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H) và bị tạm giam để điều tra cho đến nay.
Đối với thương tích của Lê Nhật L2 và Huỳnh Thanh Q, các bên có đơn không yêu cầu xử lý hình sự nên không có căn cứ để xem xét xử lý.
Đối với Nguyễn Hữu C và Đàm Văn M, không biết sự việc của Huỳnh Thanh Q, Lê Nhật L2 và đồng phạm đánh nhau và không tham gia “Gây rối trật tự công cộng” nên không có cơ sở để xử lý.
Đối với tên T2 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, tiếp tục điều tra xác minh làm rõ xử lý sau.
Đối với Lê Nhật L2, Huỳnh Thanh Q và Nguyễn Tấn L1 đã được Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương (nay là Tòa án nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh) xét xử tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 69/2025/HSST ngày 28/02/2025.
Đối với Ngô Huỳnh L3, hiện đang bị Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H ra quyết định truy nã khi nào bắt được xử lý sau.
Tại Cáo trạng số: 05/CT-VKS-KV16 ngày 15 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Đặng Trường A về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015, (được sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025). Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017, 2025) để xử phạt bị cáo Đặng Trường A với mức hình phạt từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
* Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết theo Bản án hình sự sơ thẩm số 69/2025/HSST ngày 28/02/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương (nay là Tòa án nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh) nên không đặt ra xem xét.
Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo không có ý kiến tranh luận với Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt, xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự đồng thời trong lời nói sau cùng bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người làm chứng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ vào lời khai của bị cáo, người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 24/6/2024, Đặng Trường A cùng đồng phạm có hành sử dụng phương tiện xe mô tô, dao, nón bảo hiểm, gạch đá đuổi đánh nhau nơi công cộng tại Ngã tư đường M - T giao nhau với đường D, thuộc khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh).
Như vậy, hành vi của bị cáo Đặng Trường A dùng hung khí nguy hiểm, rượt đuổi đánh người khác tại Ngã tư đường M - T giao nhau với đường D đã xâm phạm đến trật tự công cộng, an ninh xã hội. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025). Do đó, Cáo trạng số: 05/CT-VKS-KV16 ngày 15 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với bị cáo L3 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự chung nơi công cộng, vi phạm nếp sống văn minh, quy tắc của cuộc sống, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường ở nơi công cộng, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi làm náo động trật tự ở nơi công cộng là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến vai trò của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa; bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về nhân thân: Bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo bỏ trốn gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng nên cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo. [8] Về hình phạt: Xét bị cáo phạm tội nghiêm trọng, đã xâm phạm xâm phạm an toàn công cộng, đến quy tắc sinh hoạt, đi lại nơi công cộng, gây mất trật tự trị an tại địa phương đồng thời hành vi phạm tội của bị cáo ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành những công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
Đối với thương tích của Lê Nhật L2 và Huỳnh Thanh Q, các bên có đơn không yêu cầu xử lý hình sự nên không có căn cứ để xem xét xử lý; đối với Nguyễn Hữu C và Đàm Văn M, không biết sự việc của Huỳnh Thanh Q, Lê Nhật L2 và đồng phạm đánh nhau và không tham gia “Gây rối trật tự công cộng” nên không có cơ sở để xử lý; đối với tên T2, hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, tiếp tục điều tra xác minh làm rõ xử lý sau; đối với Lê Nhật L2, Huỳnh Thanh Q và Nguyễn Tấn L1 đã được Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương (nay là Tòa án nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh) xét xử tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 69/2025/HSST ngày 28/02/2025 và đối với Ngô Huỳnh L3, hiện đang bị Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H ra quyết định truy nã khi nào bắt được xử lý sau, là đúng theo quy định của pháp luật.
Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết theo Bản án hình sự sơ thẩm số: 69/2025/HSST ngày 28/02/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương (nay là Tòa án nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh) nên không đặt ra xem xét.
Xét đề nghị Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và xử lý vật chứng là phù hợp nên có cơ sở chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Đặng Trường A phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025).
- Xử phạt bị cáo Đặng Trường A 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/7/2025.
2. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Đặng Trường A phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án./. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA