vanban.org

Bản án 205/2025/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 31/03/2025 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 31/03/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Công H.

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2025/HS-ST ngày 21 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Tuyên bố bị cáo Lê Công H (tên gọi khác: Năm C) phạm tội: “Giết người” và tội “Hủy hoại tài sản”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Công H phạm tội Giết người và Hủy hoại tài sản - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Công H.
  • Căn cứ chính? Điều 1 Bộ luật Hình sự; Điều 178 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 205/2025/HS-PT
Ngày 31 tháng 3 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Thủy;

Các Thẩm phán:

Bà Nguyễn Thị Thụy Vũ;

Bà Nguyễn Thị Cúc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thủy Tiên - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 159/2025/TLPT-HS ngày 26 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo Lê Công H; Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2025/HS-ST ngày 21 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị cáo: Lê Công H, (Tên gọi khác: Năm C), sinh năm 1964 tại Bến Tre; giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú: 180A ấp K, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 4/12; Nghề nghiệp: không; Con ông Lê Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị T1; Có vợ: Ngô Thị N, sinh năm 1967; có 02 người con, lớn nhất sinh năm 1987, nhỏ nhất sinh năm 2007; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt ngày: 26/6/2022. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo theo yêu cầu của Tòa án: Luật sư Dương Phúc H1 của Văn phòng luật sư Dương Phúc H1 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H. (có mặt)

(Trong vụ án, bị hại, đại diện bị hại không kháng cáo, Tòa án không triệu tập đến phiên tòa phúc thẩm)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào năm 2011, Lê Công H có quan hệ tình cảm với bà Kiều Thị Tuyết L, đến khoảng năm 2021 do giữa 02 người mâu thuẫn. Hầu nghi ngờ bà L có tình cảm với người khác nên bà L đòi chia tay. Hầu không đồng ý và nhiều lần gọi điện, nhắn tin đe dọa sẽ giết chết bà L cùng gia đình.

Khoảng đầu tháng 6/2022, H nảy sinh ý định đốt nhà bà L nên H đến cửa hàng X1 số C Quốc lộ A, Phường E, thành phố T, tỉnh Long An mua khoảng 2.000.000 đồng tiền xăng chứa trong 03 can nhựa loại 20 lít và chuẩn bị 03 cây kim loại dài khoảng 30cm, một đầu có quấn vải, một cái quẹt gas, rồi điều khiển xe mô tô hiệu Honda Dream biển số 71F3-7819 đến nhà bà L tại số A đường N, Khu phố E, phường B, thành phố T. Do bà L không có ở nhà nên H điều khiển xe quay về cất giấu xăng và các dụng cụ nêu trên tại nhà của H tại số A ấp K, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre.

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 24/6/2022, H điều khiển xe mô tô hiệu Honda Dream biển số 71F3-7819 chở theo 03 can xăng loại 20 lít và 03 cây kim loại một đầu có quấn vải từ tỉnh Bến Tre đến nhà bà L. Đến khoảng 01 giờ 43 phút ngày 25/6/2022, H đứng trước nhà bà L nhưng không dám thực hiện rồi bỏ đi về. Khi đi đến gần cầu P thuộc thành phố T, H đổi ý nên quay xe trở lại. Hầu lấy 03 can xăng để bên hông nhà bà L, rồi lần lượt đổ hết 03 can xăng xuống thềm nhà, cho xăng chảy vào bên trong nhà. Sau đó, H dùng quẹt gas châm lửa vào 03 thanh kim loại có quấn vải đã tẩm xăng và châm vào vị trí đã đổ xăng trước đó. Khi ngọn lửa bùng cháy thì H ném 03 cây kim loại có quấn vải đã tẩm xăng xuống trước nhà rồi ra ngoài lấy xe tẩu thoát. Tại thời điểm H châm lửa đốt, trong nhà bà L có 06 người đang nằm ngủ gồm: bà Kiều Thị Tuyết L, chị Nguyễn Thị Tuyết N1 và chị Nguyễn Thị Thanh X (là con ruột bà L), bà Nguyễn Thị Ngọc H2 (mẹ ruột bà L), anh Kiều Thanh S (em ruột bà L) và cháu Kiều Nguyễn Phương H3 (sinh ngày 08/5/2016 là con của anh S). Lúc này, bà L, bà H2, anh S và cháu H3 phát hiện lửa cháy nên phá khung sắt cửa sổ tại phía sau nhà chạy thoát ra ngoài.

Riêng chị N1 và chị X không chạy thoát kịp, khi lực lượng chữa cháy tiến hành dập lửa phát hiện chị Nguyễn Thị Tuyết N1 đã chết và chị Nguyễn Thị Thanh X bị thương nặng nên được đưa đi cấp cứu và tử vong cùng ngày tại Bệnh viện C1. Ngoài ra, tài sản trong nhà gồm xe mô tô hiệu Honda Airblade màu đỏ trắng đen, biển số 71B2-014.92, xe mô tô hiệu Honda Vision màu đỏ, biển số 71B4-148.5, xe mô tô Honda Lead màu đỏ, biển số 59F1-572.33; xe mô tô hiệu Dalim C81, màu xanh trắng, biển số 59FA-023.73 bị cháy hư hỏng cùng những vật dụng trong nhà bị cháy hoàn toàn.

Qua điều tra, ngày 26/6/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T ra Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Lê Công H.

Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 3684-22/KL-KTHS ngày 28/8/2022 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận:“Nguyễn Thị Thanh X chết do sốc bỏng”.

Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 3685-22/KL-KTHS ngày 28/8/2022 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận: “Nguyễn Thị Tuyết N1 chết cháy - ngạt khí cháy”.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 2995/KL-HĐĐGTS ngày 18/5/2023, của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự cấp Thành phố kết luận:

01 xe mô tô hiệu Honda Airblade màu đỏ trắng đen, biển số 71B2-014.92 trị giá 20.333.000 đồng;

01 xe mô tô hiệu Honda Vision màu đỏ, biển số 71B4-148.51 trị giá 27.667.000 đồng;

01 xe mô tô Honda Lead màu đỏ, biển số 59F1-572.33 trị giá 20.767.000 đồng;

01 xe mô tô hiệu Dalim C81, màu xanh trắng, biển số 59FA-023.73 trị giá 6.767.000 đồng;

Tổng tài sản 04 chiếc xe mô tô bị thiệt hại là 75.534.000 đồng”.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 1665/KL-HĐĐGTS, ngày 21/3/2024, của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự cấp Thành phố, kết luận:

“Giá trị thiệt hại của căn nhà tại địa chỉ số A đường N, Khu phố E, phường B, thành phố T tại thời điểm tháng 6/2022 là 106.670.000 đồng”

Đối với các tài sản gồm: 01 bộ S1; 01 bộ bàn ghế bằng gỗ; 01 dàn máy Karaoke (âm ly + loa thùng); 01 Tivi nhãn hiệu Sony 43 inch; 01 xe đạp Martin màu trắng; 01 máy lạnh nhãn hiệu LG 1.5HP; 01 (giường ngủ bằng gỗ; 01 tủ áo bằng gỗ; 01 điện thoại Iphon 8 Plus; 01 điện thoại nhấn hiệu Vivo Yll; 01 điện thoại Iphon 6 Plus; 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO; 01 máy tính bảng; 01 điện thoại Samsung Note 9; 01 Laptop hiệu Sony Varo; 01 điện thoại Vivo; 01 tủ lạnh Samsung 360 lít; 03 tủ nhôm; 01 bếp gas + bình gas; 01 máy giặt nhãn hiệu LG; 01 quạt hơi nước; hệ thống Camera, do không đủ hồ sơ, tài liệu liên quan thể hiện thông tin kỹ thuật, đặc điểm của tài sản cần định giá, nên Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự cấp Thành phố không có căn cứ để định giá.

Tại Bản kết luận giám định số 1672/KL-KTHS ngày 22/02/2023 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận:

“01 nón bảo hiểm màu nâu có số 19-5 và chữ Victory cần giám định được ký hiệu mẫu m1 (đã nêu ở mục II.1) không tìm thấy xăng, dầu;

02 mảnh vải màu nâu cần giám định được ký hiệu mẫu m2 (đã nêu ở mục II.1) tìm thấy xăng, dầu;

02 mảnh vải màu xám cần giám định được ký hiệu mẫu m3 (đã nêu ở mục II.1) tìm thấy xăng dầu;

02 thanh kim loại một đầu quấn vải cần giám định được ký hiệu mẫu m4 (đã nêu ở mục II.1) tìm thấy xăng, dầu;

01 thanh kim loại một đầu quấn vải cần giám định được ký hiệu mẫu m5 (đã nêu ở mục II.1) tìm thấy xăng, dầu”.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2025/HS-ST ngày 21 tháng 01 năm 2025, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Căn cứ các điểm i khoản 1 Điều 52; các điểm a, b, 1, n khoản 1 Điều 123 và các điểm b, d khoản 2 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Lê Công H (tên gọi khác: Năm C) phạm tội: “Giết người” và tội “Hủy hoại tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Công H Tử hình về tội “Giết người”; 05 (năm) năm tù về tội “Huỷ hoại tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội là: Tử hình.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Lê Công H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Công H vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng tuân theo quy định của Luật tố tụng hình sự.

Về nội dung: Bản án sơ thẩm xét xử là có căn cứ, phù hợp quy định, bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ hình phạt nào đặc biệt mới cung cấp để Hội đồng xét xử xem xét. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Người bào chữa cho bị cáo là Luật sư Dương Phúc H1 trình bày: tại phiên toà phúc thẩm bị cáo thành khẩn nhận tội, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, học vấn rất thấp, vì ghen tuông mù quáng không kiềm chế được cảm xúc, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét mức án tù không thời hạn đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hình thức: Đơn kháng cáo của các bị cáo Lê Công H làm trong thời hạn luật định, hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

Xuất phát từ mâu thuẫn trong quan hệ tình cảm, tháng 6/2022, Lê Công H nảy sinh ý định đốt nhà bà Kiều Thị Tuyết L nên đã đến cửa hàng xăng dầu P Quốc lộ A, Phường E, thành phố T, tỉnh Long An mua khoảng 2.000.000 đồng tiền xăng chứa trong 03 can nhựa loại 20 lít và chuẩn bị 03 cây kim loại dài khoảng 30 cm, một đầu có quấn vải, một cái quẹt gas, rồi điều khiển xe mô tô hiệu Honda Dream biển số 71F3-7819 đến nhà bà L tại số A đường N, Khu phố E, phường B, thành phố T. Do bà L không có ở nhà nên H điều khiển xe quay về cất giấu xăng và các dụng cụ nêu trên tại nhà của H tại số A ấp K, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre.

Ngày 24/6/2022, H tiếp tục đến nhà bà L và mang theo những vật dụng đã chuẩn bị như trên. Rạng sáng ngày 25/6/2022, H lấy 03 can xăng đổ xuống thềm nhà, cho xăng chảy vào bên trong nhà bà L; sau đó, H dùng quẹt gas châm lửa vào 03 thanh kim loại có quấn vải đã tẩm xăng và châm vào vị trí đã đổ xăng trước đó; khi ngọn lửa bùng cháy thì H ném 03 cây kim loại có quấn vải đã tẩm xăng xuống trước nhà rồi ra ngoài lấy xe tẩu thoát. Tại thời điểm H châm lửa đốt, trong nhà bà L có 06 đang nằm ngủ gồm: bà Kiều Thị Tuyết L, chị Nguyễn Thị Tuyết N1 và chị Nguyễn Thị Thanh X (là con ruột bà L), bà Nguyễn Thị Ngọc H2 (mẹ ruột bà L), anh Kiều Thanh S (em ruột bà L) và trẻ Kiều Nguyễn Phương H3 (sinh ngày 08/5/2016 là con của anh S). Lúc này, bà L, bà H2, anh S và cháu H3 phát hiện lửa bùng cháy nên phá khung sắt cửa sổ tại phía sau nhà chạy thoát ra ngoài; riêng chị N1 và chị X đã tử vong sau đó. Ngoài ra, vụ cháy còn gây thiệt hại về tài sản trong nhà gồm xe mô tô hiệu Honda Airblade màu đỏ trắng đen, biển số 71B2-014.92, xe mô tô hiệu Honda Vision màu đỏ, biển số 71B4-148.5, xe mô tô Honda Lead màu đỏ, biển số 59F1-572.33; xe mô tô hiệu Dalim C81, màu xanh trắng, biển số 59FA-023.73.

Với hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Lê Công H phạm tội “Giết người” theo điểm a, b, 1, n khoản 1 Điều 123 và tội “Huỷ hoại tài sản” theo các điểm b, d khoản 2 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, đã xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Bản thân bị cáo đủ khả năng nhận thức được việc sử dụng xăng đốt nhà vào thời điểm đêm khuya sẽ gây khả năng làm chết nhiều người và hủy hoại nhiều tài sản. Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống, bị cáo sử dụng xăng đốt, gây tử vong cho 02 bị hại và khả năng tử vong cao cho 04 bị hại khác, đồng thời hủy hoại phần lớn tài sản của các bị hại. Bị cáo phạm tội “Giết người” với 04 tình tiết định khung hình phạt “giết 02 người trở lên”, “giết người dưới 16 tuổi”, “bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người”, “có tính chất côn đồ” và phạm tội “Hủy hoại tài sản” với 02 tình tiết định khung hình phạt “gây thiệt hại cho tài sản giá trị từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng”, “dùng chất nguy hiểm về cháy, nổ hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác”.

Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, xử phạt bị cáo tử hình về tội “Giết người” và 05 năm tù về tội “Hủy hoại tài sản” là phù hợp, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Vì vậy, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo; cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Lê Công H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Công H.

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2025/HS-ST ngày 21 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Tuyên bố bị cáo Lê Công H (tên gọi khác: Năm C) phạm tội: “Giết người” và tội “Hủy hoại tài sản”.

Áp dụng các điểm a, b, 1, n khoản 1 Điều 123 và các điểm b, d khoản 2 Điều 178; điểm i khoản 1 Điều 52, Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Lê Công H Tử hình về tội “Giết người”; 05 (năm) năm tù về tội “Huỷ hoại tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai tội là Tử hình.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bị cáo Lê Công H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trong thời hạn 07 (bảy) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo Lê Công H được quyền gửi đơn lên Chủ tịch N2 để xin ân giảm án tử hình.

Cỡ chữ