vanban.org

Bản án 205/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Nguyễn Thị Út Eđối với bà Tô Thị Cẩm H và ông Nguyễn Văn T về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Buộc bà Tô Thị Cẩm H và ông Nguyễn Văn T phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Nguyễn Thị Út Esố tiền là 19.000.000đồng. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyễn Thị Út E - Tô Thị Cẩm H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Nguyễn Thị Út Eđối với bà Tô Thị Cẩm H và ông Nguyễn Văn T về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 205/2023/DS-ST
Ngày: 22/9/2023
V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài
sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Chí Cường.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Duy Khoa.

2. Ông Đỗ Văn Lom.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện C.

Ngày 22 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 132/2023/TLST-DS ngày 25 tháng 5 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2023/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Út Em, sinh năm 1970.

Địa chỉ: 242/40, ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre.

2.Bị đơn: Bà Tô Thị Cẩm H, sinh năm 1978.

Địa chỉ: 253/83, ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre.

3.Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1972.

Địa chỉ: 253/83, ấp T, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre.

Tại phiên tòa dân sự sơ thẩm nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt có mặt, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, văn bản trình bày ý kiến trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Út Ecó lời trình bày:

Vào ngày 02/10/2022, bà Tô Thị Cẩm H quen biết với bà nên có vay của bà số tiền 19.000.000đồng dùng để chi tiêu sinh hoạt gia đình, chồng bà H là ông Tcũng biết rõ số nợ này. Khi vay nợ bà H có viết giấy tay vào ngày 02/10/2022, bà H có cam kết hàng tháng sẽ trả cho bà Út E2000.000đồng cho đến khi hết số tiền vay, bà không tính lãi số tiền cho bà H vay tuy nhiên bà H không thực hiện lời hứa.

Hiện nay bà đã nhiều lần đến nhà yêu cầu bà H trả nợ số tiền 19.000.000đồng tuy nhiên bà H không chịu trả.

Nay bà Út Eyêu cầu Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Bến Tre giải quyết buộc bà H và ông Tphải có nghĩa vụ liên đới trả lại cho bà số tiền gốc 19.000.000đồng, trả làm một lần và không yêu cầu tính lãi

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên không có lời trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” được Tòa án xem xét giải quyết theo quy định tại Điều 26, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về tố tụng:

Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đương sự là đúng qui định.

Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không lý do nên Tòa án căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt họ là phù hợp.

Về nội dung: Theo nguyên đơn trình bày, vào ngày 02/10/2022, bà Út Ecó cho bà Tô Thị Cẩm H vay số tiền 19.000.000đồng dùng để chi tiêu sinh hoạt gia đình, khi vay nợ bà H có viết giấy tay vào ngày 02/10/2022. Theo nguyên đơn thì bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên yêu cầu bị đơn trả nợ.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của bà là tờ giấy tay không có tiêu đề ngày 02/10/2021 có chữ ký H và ghi tên Tô Thị Cẩm H, cụ thể tờ giấy tay có nội dung “ Hôm nay ngày 2 tháng 10 2022 tui tên Tô Thị Cẩm H có thiếu tiền chị Út Esố tiền là 19.000.000đ (Mười chín triệu đồng chẵn) ấp T ngày 2 tháng 10 2022’’.

Như vậy giữa bị đơn và nguyên đơn có xác lập hợp đồng vay tài sản, nguyên đơn cho rằng bị đơn vi phạm nghĩa vụ và khởi kiện bị đơn. Tòa án mặc dù đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo hòa giải, bản phô tô giấy mượn nợ nhưng bị đơn cố tình vắng mặt không đến Tòa án để phản bác việc vay tiền hoặc để chứng minh đã thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng vì vậy khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền 19.000.000đồng, trả làm một lần là có cơ sở được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với nghĩa vụ liên đới do bị đơn vi phạm nghĩa vụ, chồng bị đơn là Nguyễn Văn T biết rõ số nợ này nên nguyên đơn yêu cầu cả hai có nghĩa vụ liên đới là phù hợp với Điều 27 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 vì vậy được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị đơn có nghĩa vụ trả nợ phải chịu án phí sơ thẩm có giá ngạch theo quy định số tiền 19.000.000đồng x 5% = 950.000đồng, nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu khởi kiện vì vậy được trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 463, 466 và 468 Bộ luật dân sự; Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình và Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Nguyễn Thị Út Eđối với bà Tô Thị Cẩm H và ông Nguyễn Văn T về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Buộc bà Tô Thị Cẩm H và ông Nguyễn Văn T phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Nguyễn Thị Út Esố tiền là 19.000.000đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí sơ thẩm: Bà Tô Thị Cẩm H và ông Nguyễn Văn T phải có nghĩa vụ chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch 950.000đồng.

Trả lại cho bà Nguyễn Thị Út Esố tiền tạm ứng án phí 475.000đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0004367 ngày 12/5/2023 của của Chi cục thi hành án dân sự huyện C, Bến Tre.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, riêng đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ