vanban.org

Bản án 205/2022/HSST — Hình sự

TAND Q. Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 13/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thanh L, Quản Minh T đều phạm tội

"Cướp giật tài sản". [2] Áp dụng: điểm d khoản 2 Điều 171; điểm h,s khoản 1 Điều 51; Điều 17 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thanh L, Quản Minh T đều phạm tội
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T
THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 205/2022/HSST
Ngày: 13 - 12 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T, THÀNH PHỐ H

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thành.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Nguyễn Thị Thanh Trang;

2/ Ông Đặng Tấn Đức.

Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Duy – Thư ký Tòa án nhân dân quận T, thành phố H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T, thành phố H tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận T, xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số 133/2022/HSST ngày 28 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 276/2022/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Thanh L, sinh năm 2001, tại: TP. H; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: 102/3 đường N, phường 9, quận TB, TP. H; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 8/12; giới tính: Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Thanh O, sinh năm 1969 và bà: Hà Thị Minh R, sinh năm 1973 (chết);

- Tiền sự: ngày 10/02/2020 bị Tòa án nhân dân quận TB, TP. H ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 12 tháng. Chấp hành xong ngày 22/6/2021.

- Tiền án: không.

Bị bắt tạm giữ ngày 26/03/2022 và hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận T, TP. H và có mặt tại phiên tòa.

2. Quản Minh T; sinh năm 2000, tại: TP. H; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: 113/13/6 đường V, phường 11, quận 3, TP. H; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 06/12; giới tính: Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Quản Minh N, sinh năm 1978 và bà: Nguyễn Thị Bạch U, sinh năm 1979;

- Tiền án, tiền sự: không.

Bị bắt tạm giữ ngày 26/03/2022 và hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận T, TP. H và có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: chị Bùi Lê Thị Thanh H, sinh năm 2002; trú tại: 102 NQA, phường TS, quận T, TP. H (Vắng mặt).

- Người có quyền lợi & nghĩa vụ liên quan: Chị Lưu Ngọc A, sinh năm 1963; trú tại: 29 đường I, phường 2, quận 10, TP. H (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thanh L và Quản Minh T là đối tượng nghiện ma túy, quen biết với nhau từ trước. Khoảng 20 giờ 00 ngày 26/3/2022, Nguyễn Thanh L điều khiển xe gắn máy hiệu Exciter, màu đỏ-đen, biển số 59U1-535XX chở Quản Minh T đi sinh nhật bạn tại quận T.

Đến khoảng 21 giờ 00 cùng ngày khi đang lưu thông trên đường C thì T thấy chị Bùi Lê Thị Thanh H và chị Lê Thị O đang ngồi trên xe gắn máy hiệu Vision dừng trước nhà số 149A đường C, phường TS, quận T, lúc này chị H đang sử dụng điện thoại di động hiệu OPPO A3S, màu xanh đen, 16GB nên T chỉ cho L thấy và rủ L cướp giật chiếc điện thoại, L đồng ý. Do chạy ngược chiều nên L điều khiển xe quay lại, áp sát phía bên trái chị H cho T ngồi sau dùng tay phải giật được chiếc điện thoại di động, rồi L tăng ga chở T chạy tẩu thoát ra hướng đường TS thì chị H tri hô và điều khiển xe chở chị O truy đuổi theo. Khi đến trước nhà số 368 TS, phường TS, quận T thì chị H đuổi kịp và tông vào đuôi xe của L, làm cả hai xe ngã xuống đường. Sau đó, T cầm chiếc điện thoại vừa cướp giật được trên tay phải bỏ chạy bộ vào hẻm 368 TS, phường TS, thì chị H tiếp tục đuổi theo T. Khi đến trước nhà số 370/9A TS, phường TS, quận T thì chị H thấy Tuấn vứt lại chiếc điện thoại rồi chạy bộ thì bị anh Trần Minh S cùng chị H bắt giữ. Còn L bỏ chạy bộ trên đường TS hướng ra C thì chị O cùng quần chúng nhân dân bắt giữ giao cho Công an phường TS xử lý.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thanh L và Quản Minh T đã thừa nhận toàn bộ hành vi cướp giật như trên.

Ngày 13/6/2022, ông Quản Minh N là cha ruột của Quản Minh T có đơn xin cứu xét với nội dung T đang mắc bệnh động kinh và rối loạn tâm thần và hành vi do sử dụng chất kích thích khác, bao gồm cả caffeine (rối loạn tâm thần), có giấy khám bệnh của Bệnh viện tâm thần trung ương 2 và ông N yêu cầu Cơ quan CSĐT Công an quận T tiến hành giám định tâm thần đối với Quản Minh T.

Ngày 22/7/2022, Cơ quan CSĐT Công an quận T đã đưa bị can Quản Minh T đi giám định tâm thần tại Viện pháp y tâm thần trung ương BH. Kết luận giám định pháp y tâm thần số 564/KLGĐ ngày 06/9/2022 của Viện pháp y tâm thần trung ương BH kết luận bị can Quản Minh T như sau:

- Về y học:

+ Trước, trong, sau khi gây án và hiện nay: Đương sự bị rối loạn nhân cách và hành vi do sử dụng chất kích thích khác bao gồm cafein / Động kinh (F15.71/G40-ICD.10).

- Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi:

+ Tại thời điểm gây án: Đương sự bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

+ Hiện nay: Đương sự đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi để làm việc với cơ quan pháp luật.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 725/KL-HĐGGTS ngày 26/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS quận T kết luận vào thời điểm định giá ngày 26/3/2022: 01 điện thoại di động hiệu OPPO A3S, màu xanh đen, 16GB, trị giá là 1.300.000 đồng.

Vật chứng thu giữ:

1. Thu giữ của Nguyễn Thanh L

- 01 ĐTDĐ hiệu OPPO A3S, màu xanh đen, Cơ quan CSĐT Công an quận T đã trả cho chị Lê Thị O.

- 01 xe gắn máy hiệu Exciter, màu đỏ-đen, BS: 59U1-535.XX, số máy: 1S9A0XX-9XX, số khung: không xác định. Đây là xe gắn máy L chở T đi cướp giật tài sản.

- 01 ĐTDĐ hiệu Redmi, màu xanh, số IMEI: 863328058684375XXX. Đây là ĐTDĐ của L.

- 01 áo sơ mi dài tay, màu đen; 01 quần jean dài, màu xanh. Đây là bộ quần áo Lộc mặc khi thực hiện hành vi cướp giật tài sản.

2. Thu giữ của Quản Minh T

- 01 áo sơ mi dài tay, màu xanh-vàng; 01 quần jean dài, màu xám; nón bảo hiểm màu vàng. Đây bộ quần áo T mặc khi thực hiện hành vi cướp giật tài sản.

- 01 ĐTDĐ hiệu Samsung S6, màu vàng, số IMEI: XXX460065785201/XX. Đây là ĐTDĐ của T.

Hiện các đồ vật tài sản trên đã được nhập kho vật chứng theo Lệnh nhập kho vật chứng số 124 ngày 18/10/2022 của Cơ quan CSĐT Công an quận T.

* Về phần dân sự: Bị hại chị Bùi Lê Thị Thanh H đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi thường.

Tại bản Cáo trạng số 125/CT-VKSQ.TP ngày 26 tháng 10 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân quận T, TP. H đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thanh L, Quản Minh T về tội: “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên Tòa:

- Sau khi kết thúc phần thủ tục xét hỏi, Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận T giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa, phát biểu ý kiến giữ nguyên quan điểm như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh L từ 04 đến 05 năm tù.

- Xử phạt bị cáo Quản Minh T từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm 06 tháng tù.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề cập xử lý phần trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng.

- Các bị cáo Nguyễn Thanh L, Quản Minh T đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng, các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Điều tra viên, Kiểm sát viên, khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo Nguyễn Thanh L, Quản Minh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai người bị hại, lời khai của những người làm chứng, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang và phù hợp với các chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án, nên có đủ căn cứ để xác định: khoảng 21 giờ ngày 26/3/2022, Nguyễn Thanh L điều khiển xe gắn máy hiệu Exciter, màu đỏ-đen, biển số 59U1-535XX, chở Quản Minh T có hành vi cướp giật 01 điện thoại di dộng hiệu hiệu OPPO A3S, màu xanh đen, 16GB, trị giá 1.300.000 đồng của chị Bùi Lê Thị Thanh H tại trước nhà số 149A C, phường TS, quận T, thì bị bắt giữ.

Vì vậy, Cáo trạng số 125/CT-VKSQ.TP ngày 26/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận T, TP. H đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thanh L, Quản Minh T về tội: “Cướp giật tài sản” theo điểm d (dùng thủ đoạn nguy hiểm) khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ và phù hợp pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân, mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần thiết xử phạt các bị cáo mức án tương xứng với tính chất mức độ và hậu quả do các bị cáo gây ra để có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Vụ án có nhiều bị cáo tham gia. Tuy nhiên, chỉ là đồng phạm giản đơn vì giữa các bị cáo không có sự phân công và câu kết chặt chẻ. Để có cơ sở lượng hình, Hội đồng xét xử phân tích vai trò tham gia của từng bị cáo trong vụ án cụ thể như sau:

Đối với bị cáo Nguyễn Thanh L: là người có nhân thân xấu, có 01 tiền sự. Vai trò tham gia của bị cáo trong vụ án là người trực tiếp điều khiển xe mô tô chở bị cáo T áp sát người bị hại để T giật điện thoại di động của chị H. Sau khi T giật được điện thoại thì bị cáo tăng ga bỏ chạy.

Đối với bị cáo Quản Minh T: là người trực tiếp rủ rê bị cáo L cướp giật tài sản, chính bị cáo là người trực tiếp cướp giật 01 điện thoại di động của chị Hiền.

Tuy nhiên, khi nghị án lượng hình cũng cần cân nhắc xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo vì: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; tài sản đã kịp thời thu hồi và trao trả cho người bị hại, nên hành vi phạm tội của các bị cáo gây thiệt hại không lớn là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s,h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Riêng bị cáo Quản Minh T còn được hưởng tình tiết là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm q khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đối với chị Lê Thị O, chị Bùi Lê Thị Thanh H quá trình đuổi bắt bị thương tích nhẹ nên đã từ chối giám định thương tích và không có yêu cầu bồi thường, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: quá trình điều tra, chị Bùi Lê Thị Thanh H đã nhận được đầy đủ tài sản và không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

1. Thu giữ của Nguyễn Thanh L:

- Đối với 01 ĐTDĐ hiệu OPPO A3S, màu xanh đen, Cơ quan CSĐT Công an quận T đã trả cho chị Bùi Lê Thị Thanh H là phù hợp.

- Đối với 01 xe gắn máy hiệu Exciter, màu đỏ-đen, số máy: 1S9A0XX-9XX, số khung: không xác định. Đây là xe gắn máy L chở T đi cướp giật tài sản. Theo bản kết luận giám định số 19333/KLGĐ-KTHS ngày 13 tháng 10 năm 2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an TP. H đối với xe gắn máy hiệu Exciter, màu đỏ-đen, BS: 59U1-535.XX, số máy: 1S9A0XX-9XX, số khung: không xác định. Kết quả: số máy không thay đổi, số khung bị mất số, không xác định được số nguyên thủy. Qua làm việc, L khai mua của một thanh niên không rõ lai lịch với giá 9.000.000đ nhưng chỉ viết tay. Qua tra cứu xe tại Văn phòng Cơ quan CSĐT Công an TP. H và Đội cảnh sát giao thông Công an quận T đối với số máy 1S9A-080XXX. Kết quả không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng. Giao cho Chi cục thi hành án dân sự quận T, TP. H đăng tìm chủ sở hữu trên phương tiện thông tin đại chúng, thời hạn 06 tháng. Nếu không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

- Đối với biển số xe 59U1-535.XX là của xe gắn máy hiệu Luvias, màu đen-đỏ, số máy: 44S1077XXX, số khung: RLCL44S10DY077XXX do chị Lưu Ngọc A, sinh năm; 1963, trú tại: 29 đường I, Phường 02, Quận 10 đứng tên chủ sở hữu. Qua làm việc, chị A cho biết xe gắn máy của chị A đã bị mất trộm 14/12/2021 tại số 29 đường I, Phường 02, Quận 10. Cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 ĐTDĐ hiệu Redmi, màu xanh, số IMEI: 863328058684375XXX. Đây là ĐTDĐ của L. Xét không liên quan đến việc phạm tội, nên cần tuyên trả lại cho bị cáo.

- Đối với 01 áo sơ mi dài tay, màu đen; 01 quần jean dài, màu xanh. Đây là bộ quần áo L mặc khi thực hiện hành vi cướp giật tài sản. Xét không còn giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

2. Thu giữ của Quản Minh T:

- Đối với 01 áo sơ mi dài tay, màu xanh-vàng; 01 quần jean dài, màu xám; nón bảo hiểm màu vàng. Đây bộ quần áo T mặc khi thực hiện hành vi cướp giật tài sản. Xét không còn giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 ĐTDĐ hiệu Samsung S6, màu vàng, số IMEI: XXX460065785201/XX. Đây là ĐTDĐ của T. Xét không liên quan đến việc phạm tội, nên cần tuyên trả ;lại cho bị cáo.

Hiện các đồ vật tài sản trên đã được nhập kho vật chứng theo Lệnh nhập kho vật chứng số 124 ngày 18/10/2022 của Cơ quan CSĐT Công an quận T.

Án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

[1] Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thanh L, Quản Minh T đều phạm tội

"Cướp giật tài sản".

[2] Áp dụng: điểm d khoản 2 Điều 171; điểm h,s khoản 1 Điều 51; Điều 17 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[2.1] Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh L 04 (bốn) năm tù.

Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 26/03/2022.

[3] Áp dụng: điểm d khoản 2 Điều 171; điểm h,s,q khoản 1 Điều 51; Điều 17 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[3.1] Xử phạt bị cáo Quản Minh T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 26/03/2022.

[4] Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 biển số xe 59U1-535.XX; 01 áo sơ mi dài tay, màu đen; 01 quần jean dài, màu xanh; 01 áo sơ mi dài tay, màu xanh-vàng; 01 quần jean dài, màu xám; nón bảo hiểm màu vàng.

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thanh L: 01 ĐTDĐ hiệu Redmi, màu xanh, số IMEI: 863328058684375XXX.

- Trả lại cho bị cáo Quản Minh T: 01 ĐTDĐ hiệu Samsung S6, màu vàng, số IMEI: XXX460065785201/XX.

- Giao cho Chi cục thi hành án dân sự quận T, TP. H đăng tìm chủ sở hữu trên phương tiện thông tin đại chúng, thời hạn 06 tháng. Nếu không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước đối với: 01 xe gắn máy hiệu Exciter, màu đỏ-đen, số máy: 1S9A0XX-9XX, số khung: không xác định.

Hiện các đồ vật tài sản trên đã được nhập kho vật chứng theo Lệnh nhập kho vật chứng số 124 ngày 18/10/2022 của Cơ quan CSĐT Công an quận T.

[5] Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc các bị cáo Nguyễn Thanh L, Quản Minh T. Mỗi bị cáo phải nộp: 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[6] Các bị cáo Nguyễn Thanh L, Quản Minh T được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân thành phố H. Người bị hại, người có quyền lợi & nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Cỡ chữ