vanban.org

Bản án 205/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Đống Đa, TP. Hà Nội Tuyên án 22/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội ''Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức".

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc D 14 (mƣời bốn) năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 03 (ba) năm tù về tội ''Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan t chức''; T ng h p hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 17 (mƣời bảy) năm tù; Thời hạn tù tính từ ngày 29/10/2021. ăn cứ: Điều 47… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "lừa đảo - phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 174 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội ''Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự; Điều 341 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 205/2022/HS-ST
Ngày: 22-7-2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Quân

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Thanh Vân;

Bà Nguyễn Thị Cờ.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thu Hà - Thƣ ký Toà án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Triệu Hoàng Lan Hƣơng- Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 161/2022/TLST-HS ngày 31 tháng 05 năm 2022; theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 171/2022/QĐXX-HS ngày 07 tháng 6 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 32 ngày 22/6/2022, đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc D, sinh năm 1986; Trƣớc năm 2004 đăng ký thƣờng trú: An Nghiệp, Ninh Kiều, Cần Thơ (Hiện đã bị xóa thƣờng trú); Chỗ ở: An Nghiệp, Ninh Kiều, Cần Thơ; Nghề nghiệp: không; Dân tộc: Kinh; Con ông: Nguyễn Văn B (đã chết); Con bà: Cao Thị Bích L (đã chết); Tiền án, tiền sự: không; Danh bản, chỉ bản số 582 ngày 16/11/2021 do Công an quận Đống Đa lập; Tạm giữ: ngày 29/10/2021; Hiện bị tạm giam; Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

- Chị Đinh Thanh N, sinh năm 1993; Địa chỉ: Phƣờng Bƣởi, quận Tây Hồ, Hà Nội; Hiện ở: Phƣờng Bƣởi, quận Tây Hồ, Hà Nội. Có mặt.

- Chị Vũ Thị Kim D, sinh năm 1975; Địa chỉ: phƣờng Nguyễn Du, quận Hai Bà Trƣng, Hà Nội. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 29/6/2021 chị Vũ Thị Kim D (sinh năm 1975, ĐKNK: phƣờng Nguyễn Du, Hai Bà Trƣng, Hà Nội) đã đến cơ quan công an trình báo về việc bị Trần Ngọc Dƣơng M (ĐKNK: phƣờng Tân Phong, quận 7, Thành phố Hồ Chí M) lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Tại cơ quan công an, chị Kim D trình bày: Vào khoảng tháng 4/2020, thông qua mạng xã hội acebook chị Kim D quen biết với Trần Ngọc Dƣơng M vì M bán đồ phong thủy và xem bói. Chị Kim D đƣ c M xem bói và thấy cũng đúng n n sau đó chị Kim D và M nói chuyện với nhau nhiều hơn. Quá trình nói chuyện, M giới thiệu cho chị Kim D r ng M là nhân viên Ngân hàng HSB Việt Nam - chi nhánh thành phố Hồ h M và rủ chị Kim D mua c phiếu nội bộ của ngân hàng HSB với giá r , sau một tuần s đƣ c hƣởng l i nhuận cao gấp 05 lần số tiền gốc đã b ra. Do tin tƣởng M và đang cần tiền để trả n n n chị Kim D đồng ý chuyển tiền cho M để mua c phiếu nội bộ của ngân hàng HSB Việt Nam. Ngày 14/7/2020, chị Kim D chuyển cho M số tiền 23.000.000 đồng tƣơng đƣơng với 1000 USD thông qua tài khoản số 0391000306175 mang t n Trần Ngọc Dƣơng M tại ngân hàng TM P Ngoại Thƣơng Việt Nam (Vietcombank) để M mua c phiếu ngân hàng HSB . Sau khi chuyển tiền, M tiếp tục nói với chị Kim D nếu mua nhiều c phiếu thì càng đƣ c hƣởng nhiều l i nhuận và c phiếu nội bộ của ngân hàng chỉ bán trong thời gian ng n n n chị Kim D tiếp tục chuyển th m cho M vào số tài khoản trên t ng số tiền 404.598.000 đồng (ngày 15/7/2020, chuyển 208.503.000 đồng tƣơng đƣơng 9.000 USD; ngày 16/7/2020, chuyển 92.280.000 đồng tƣơng đƣơng 4.000 USD; ngày 18/7/2020, chuyển 103.815.000 đồng tƣơng đƣơng 4.500 USD). Tuy nhiên, sau đó chị Kim D không nhận đƣ c tiền lãi n n đã li n hệ với M thì M lấy nhiều lý do để trì hoãn không chuyển tiền cho chị Kim D. Đến tháng 6/2021, chị Kim D biết mình đã bị lừa n n đã gửi đơn đến cơ quan công an. Ngay sau khi biết chị Kim D đã gửi đơn đến cơ quan công an thì M chặn mọi thông tin li n lạc với chị Kim D.

Ngày 28/10/2021, chị Đinh Thanh N, chị Vũ Thị Kim D đã đƣa Nguyễn Ngọc D đến công an quận Đống Đa làm việc; Tại cơ quan công an Nguyễn Ngọc D đã khai nhận về hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền 427.598.000 đồng của chị Vũ Thị Kim D. ơ quan điều tra đã thu giữ của Nguyễn Ngọc D:

- 01 điện thoại di động Oppo A91 màu xanh l p sim số 0908737955;

- 01 giấy chứng minh nhân dân số 326119249 mang tên Trần Ngọc Dƣơng M (sinh ngày 24/4/1988, HKTT: xã Mỹ Hƣng, Thạnh Phú, Bến Tre);

- 01 giấy ph p lái xe hạng A1 số 831207000135 mang t n TR N N

DƢƠN M (sinh ngày: 24/4/1988, HKTT: xã Mỹ Hƣng, huyện Thạnh Phú, Bến Tre) do Phó giám đốc Sở TVT Bến Tre cấp ngày 12/6/2020;

- 01 căn cƣớc công dân số 092186786623 mang tên N UY N N

D (sinh ngày: 24/4/1986, Nơi thƣờng trú: Phƣờng An Nghiệp, quận Ninh Kiều, TP ần Thơ) do ục trƣởng ục cảnh sát Quản lý hành ch nh về trật tự xã hội cấp ngày 26/10/2019;

- 01 th visa debit số 4524041844959216 mang tên Tran Ngoc Duong M tại ngân hàng Vietcombank;

- 01 card visit mang tên Trần Ngọc Dƣơng M – giám đốc quan hệ khách hàng khối doanh nghiệp vừa và nh của ngân hàng HSBC.

Tại bản Kết luận giám định số 1180 ngày 11/5/2022 của Viện Khoa học hình sự - Bộ Công an, kết luận:

- Giấy phép lái xe hạng A1, số: 831207000135 cần giám định là Giấy phép lái xe giả.

- Giấy chứng minh nhân dân số: 326119249 cần giám định là Giấy chứng minh nhân dân giả.

- ăn cƣớc công dân số: 092186786623 cần giám định là Căn cước công dân giả.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Ngọc D khai: Vào năm 2016, do bị mất chứng minh nhân dân nên Nguyễn Ngọc D không mở đƣ c tài khoản ngân hàng. Đến năm 2018, Nguyễn Ngọc D đã l n mạng đặt mua 01 giấy chứng minh nhân dân giả mang t n Trần Ngọc Dƣơng M (sinh ngày: 24/4/1988, HKTT: xã Mỹ Hƣng, huyện Thạnh Phú, Bến Tre) của một ngƣời không quen biết với giá 1.500.000 đồng. Thông tin và ảnh của Nguyễn Ngọc D do Nguyễn Ngọc D cung cấp cho đối tƣ ng làm giả giấy chứng minh nhân dân. Sau khi nhận đƣ c giấy chứng minh nhân dân giả, Nguyễn Ngọc D mang chứng minh thƣ giả ra ngân hàng Vietcombank chi nhánh Tây Cần Thơ đăng k mở th ngân hàng để sử dụng. Sau đó, Nguyễn Ngọc D tiếp tục lên mạng xã hội tìm đặt mua của một ngƣời không quen biết: 01 ăn cƣớc công dân giả mang tên Nguyễn Ngọc D (sinh ngày 24/4/1986, Nơi thƣờng trú: An Nghiệp, Ninh Kiều, Cần Thơ) với giá 2.000.000 đồng và 01 giấy phép lái xe máy giả mang tên Trần Ngọc Dƣơng M (sinh ngày 24/4/1988, HKTT: xã Mỹ Hƣng, huyện Thạnh Phú, Bến Tre) với giá 1.500.000 đồng. Tất cả đều dán ảnh của Nguyễn Ngọc D. Thông tin và ảnh đều do Nguyễn Ngọc D cung cấp cho đối tƣ ng làm giả.

Khoảng tháng 4/2020, Nguyễn Ngọc D lập 01 tài khoản facebook có t n Trần Ngọc Dƣơng M và đăng các bài viết với nội dung có khả năng xem bói. Sau đó, chị Kim D có nh n tin nhờ D xem bói bài. Sau khi đƣ c Nguyễn Ngọc D xem bói bài thấy đúng, chị Kim D b t đầu nói chuyện tâm sự nhiều hơn với Nguyễn Ngọc D. Quá trình nói chuyện, Nguyễn Ngọc D biết đƣ c chị Kim D đang gặp khó khăn về tài ch nh, cần số tiền 500.000.000 đồng để trả n n n Nguyễn Ngọc D nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tiền của chị Kim D. Nguyễn Ngọc D nói với chị Kim D là mình đang công tác tại Ngân hàng HSB Việt Nam và có suất mua chứng khoán của một tập đoàn b n Mỹ, sau 07 ngày s nhận đƣ c l i nhuận cao gấp 05 lần số tiền gốc đã b ra. Nguyễn Ngọc D đã bảo chị Kim D chuyển tiền vào số tài khoản 0391000306175 mang t n Trần Ngọc Dƣơng M ngân hàng Vietcombank cho mình. Do tin tƣởng n n chị Kim D đã chuyển cho Nguyễn Ngọc D 04 lần với t ng số tiền là 427.598.000 đồng. Toàn bộ số tiền này Nguyễn Ngọc D đã sử dụng chi ti u cá nhân hết.

Quá trình điều tra mở rộng xác định cũng với phƣơng thức thủ đoạn nhƣ tr n, Nguyễn Ngọc D đã lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị Đinh Thanh N (sinh năm: 1993, HKTT: phƣờng Bƣởi, quận Tây Hồ, TP Hà Nội) số tiền 23.000.000 đồng. Toàn bộ số tiền này Nguyễn Ngọc D đã chi ti u cá nhân hết.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Ngọc D khai nhận bản thân không làm việc tại ngân hàng HSBC Việt Nam và cũng không có suất mua chứng khoán của một tập đoàn b n Mỹ.

ơ quan điều tra đã xác minh tại ngân hàng HSBC Việt Nam xác định không có ai tên Trần Ngọc Dƣơng M là nhân viên của ngân hàng và cũng không có khách hàng nào tên Trần Ngọc Dƣơng M mua chứng khoán tại ngân hàng.

ơ quan điều tra đã xác minh tại địa chỉ Mỹ Hƣng, Thạnh Phú, Bến Tre không có ai tên Trần Ngọc Dƣơng M sinh sống, cƣ trú.

Hiện chị Kim D yêu cầu đƣ c bồi thƣờng số tiền 427.598.000 đồng. Chị N yêu cầu đƣ c bồi thƣờng số tiền 23.000.000 đồng.

Đối với những đối tƣ ng làm giả giấy tờ cho Nguyễn Ngọc D, tại cơ quan điều tra Nguyễn Ngọc D khai không biết họ t n, địa chỉ ở đâu n n cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ để xử lý.

Tại bản Cáo trạng số 181/CT-VKSNDĐĐ ngày 30 tháng 5 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc D về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự và tội Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức theo khoản 2 Điều 341 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố Nguyễn Ngọc D về tội danh và điều luật trên. Sau khi phân t ch, đánh giá t nh chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo đã đề nghị: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự và và khoản 2 Điều 341 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 13 năm đến 13 năm 6 tháng tù đối với tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và mức hình phạt từ 3 năm đến 3 năm 6 tháng tù đối với tội Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, t chức; T ng h p hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung từ 16 năm đến 17 năm tù; Buộc bị cáo bồi thƣờng theo yêu cầu của các bị hại; Tịch thu sung công điện thoại di động.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Chị Đinh Thanh N và chị Vũ Thị Kim D đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xét xử vụ án theo quy định.

ăn cứ vào nội dung vụ án, các chứng cứ và tài liệu đã đƣ c thẩm tra tại phiên toà. ăn cứ vào kết quả tranh luận tại phi n toà, tr n cơ sở xem x t đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Về hành vi và quyết định tố tụng của ơ quan điều tra Công an quận Đống Đa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự và không có ai khiếu nại về hành vi, quyết định của ơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định khởi tố, truy tố của ơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đƣ c coi là h p pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình đã thực hiện nhƣ nội dung bản Cáo trạng đã n u. Lời khai của bị cáo phù h p với lời khai bị hại, vật chứng vụ án, kết luận định giá tài sản, phù h p về thời gian, địa điểm, diễn biến của vụ án và các tài liệu khác có trong hồ sơ đã đƣ c thẩm tra tại phi n tòa, n n đủ cơ sở kết luận:

Năm 2018 Nguyễn Ngọc D đã l n mạng xã hội, tìm, cung cấp thông tin, ảnh của mình để thuê làm giả 01 giấy chứng minh nhân dân số 326119249 mang tên Trần Ngọc Dƣơng M (sinh ngày 14/4/1988; HKTT: xã Mỹ Hƣng, Thạnh Phú, Bến Tre); 01 giấy phép lái xe hạng A1 số 831207000135 mang tên Trần Ngọc Dƣơng M (sinh ngày 24/4/1988; hộ khẩu: xã Mỹ Hƣng, Thạnh Phú, Bến Tre) do Cục trƣởng Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 26/10/2019.

Sau đó, D đã lấy t n Trần Ngọc Dƣơng M, giả danh là giám đốc quan hệ khách khối doanh nghiệp vừa và nh của Ngân hàng HSB để gian dối chiếm đoạt của các bị hại với t ng số tiền 450.598.000 đồng, gồm: 23.000.000 đồng của chị Đinh Thị Thanh N vào ngày 13/7/2020; 427.598.000 đồng của chị Vũ Thị Kim D (sinh năm 1975, ĐKNK: phƣờng Nguyễn Du, Hai Bà Trƣng, Hà Nội) trong khoảng thời gian từ ngày 14/7/2020 đến ngày 18/7/2020.

Bị cáo đã gian dối để chiếm đoạt tiền của các bị hại, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Tội phạm và hình phạt đƣ c quy định tại điểm a Khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Bị cáo đã l n mạng xã hội tìm, cung cấp thông tin, ảnh của mình để làm giả chứng minh nhân dân, căn cƣớc công dân; giấy ph p lái xe đã phạm vào tội Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, t chức; tội và hình phạt đƣ c quy định tại điểm c Khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự

Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo với các tội danh và điều luật trên là có căn cứ pháp luật.

Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của ngƣời khác, làm mất trật tự, trị an địa phƣơng; xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của nhà nƣớc; bị cáo đã 02 lần thực hiện hành vi phạm tội nên cần áp dụng mức hình phạt tƣơng xứng với mức độ gây nguy hại cho xã hội mà bị cáo gây ra, cách ly bị cáo ra kh i đời sống xã hội một thời gian dài mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe phòng ngừa chung. Khi quyết định mức hình phạt, Hội đồng xét xử có xét bị cáo đã đầu thú, có thái độ thành khẩn khai báo nên áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thƣờng trả cho các bị hại số tiền bị cáo đã chiếm đoạt.

- Vật chứng: Đối với chiếc điện thoại thu giữ của bị cáo, x t liên quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu sung công.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các l trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội ''Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức".

- Căn cứ: điểm a khoản 3 Điều 174, điểm g khoản 1 Điều 52; điểm c khoản 2 Điều 341; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, ; Điều 55 Bộ luật Hình sự.

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc D 14 (mƣời bốn) năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 03 (ba) năm tù về tội ''Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan t chức''; T ng h p hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 17 (mƣời bảy) năm tù; Thời hạn tù tính từ ngày 29/10/2021.

ăn cứ: Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 357, Điều 468, Điều 584, Điều 585; Điều 587; Điều 589 Bộ luật dân sự; Điều 106, Điều 136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội (quy định về án phí, lệ phí Tòa án).

Buộc bị cáo trả chị Đinh Thanh N số tiền 23.000.000 đồng (hai mƣơi ba triệu đồng); Buộc bị cáo trả chị Vũ Thị Kim D số tiền 427.598.000 đồng (bốn trăm hai mƣơi bảy triệu, năm trăm chín mƣơi tám nghìn đồng).

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nƣớc: 01 điện thoại di động (tình trạng nhƣ biên bản giao nhận vật chứng số 213 ngày 14/6/2022 Của Chi cục thi hành án dân sự quận Đống Đa).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, ngƣời đƣ c bồi thƣờng có đơn y u cầu thi hành án, bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải bồi thƣờng theo mức lãi suất đƣ c quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự cho đến khi thi hành án xong.

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 22.023.920 đồng (hai mƣơi hai triệu, không trăm hai mƣơi ba nghìn, ch n trăm hai mƣơi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại đƣ c quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ