vanban.org

Bản án 205/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Tây Ninh Tuyên án 02/12/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 02/12/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Bùi Văn L phạm tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới” - phạm tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới (điề…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 189 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 205/2022/HSPT
Ngày: 02-12-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử P thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Vũ.

Các Thẩm phán:

1. Bà Phạm Thị Hồng Vân;

2. Bà Võ Thị Hồng Mai.

- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Thúy Vân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Hồng P - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử P thẩm công khai vụ án hình sự P thẩm thụ lý số: 210/2022/TLPT-HS ngày 08 tháng 11 năm 2022 đối với ; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số: 79/2022/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện B1, tỉnh Tây Ninh.

Bị cáo kháng cáo: Bùi Văn L, sinh năm 1993, tại tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Khu phố 1, thị trấn B, huyện B1, tỉnh Tây Ninh; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn Đ và bà Phan Thị C; vợ, con chưa có, tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01-8-2022 cho đến nay; bị cáo có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 18 giờ 30 phút ngày 28-6-2022, Cảnh sát kinh tế Công an huyện B1, tỉnh Tây Ninh phối hợp với Công an xã T, huyện B1 tuần tra tại khu vực biên giới gần chốt cảnh giới Biên phòng “Cầu Trắng” thuộc ấp R, xã T, huyện B1 thì phát hiện Bùi Văn L điều khiển xe mô tô Wave màu xanh, biển số 59Y2-310.87 chở 03 thùng giấy carton bên trong chứa 10 bảng điều khiển Smartgen HQM6110U; 20 bảng điều khiển Smartgen HQM6120U; 10 bộ điều chỉnh điện áp tự động SX460-R; 10 bộ điều chỉnh điện áp tự động SX440-R và 10 bảng điều khiển máy phát điện LXC 701, tất cả hàng hóa trên do nước ngoài sản xuất. Bùi Văn L không xuất trình được chứng từ, hóa đơn đối với số hàng hóa này nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ người và vật chứng để điều tra làm rõ.

Quá trình điều tra, Bùi Văn L khai vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 28-6-2022, L đang uống cafe tại ấp T2, xã T1, huyện B1, tỉnh Tây Ninh. Tại đây L gặp anh Nguyễn Hồng P, sinh năm 1983, ngụ ấp R, xã T, huyện B1, trong lúc uống cafe P có thuê L vận chuyển thiết bị điện tử từ Campuchia về Việt Nam với giá 500.000 đồng, L đồng ý. Sau đó, L điều khiển xe mô tô Wave màu xanh, biển số 59Y2 - 310.87 theo chỉ dẫn của P đến đường tuần tra biên giới gần Xóm Rọc thuộc ấp T2, xã T1, huyện B1 trước chốt phòng chống dịch Covid - 19, L dừng lại, đi bộ theo bờ ruộng sang Campuchia để nhận 03 thùng giấy carton của 01 người đàn ông Campuchia (không rõ họ tên, địa chỉ) bên trong chứa số hàng hóa trên do nước ngoài sản xuất, không có hóa đơn chứng từ, sau đó đi theo đường bờ ruộng quay trở lại Việt Nam và đưa lên xe mô tô biển số 59Y2-310.87. L điều khiển xe mô tô chở 03 thùng giấy carton chứa thiết bị điện tử đi giao theo hướng ra chốt cảnh giới Biên phòng “Cầu Trắng” thuộc ấp R, xã T, huyện B1, tỉnh Tây Ninh thỉ bị phát hiện bắt quả tang.

Kết quả giám định số: 984/KL - KTHS ngày 17-8-2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: Xe mô tô biển số 59Y2 - 310.87 có số khung bị đục xóa không xác định được số nguyên thủy, số máy không bị đục xóa.

Tại Kết luận số: 15/KL-HĐĐGTTTHS ngày 04-7-2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B1 kết luận: 10 bảng điều khiển Smartgen HQM6110U; 20 bảng điều khiển Smartgen HQM6120U; 10 bộ điều chỉnh điện áp tự động SX460-R; 10 bộ điều chỉnh điện áp tự động SX440-R và 10 bảng điều khiển máy phát điện LXC 701, có tổng giá trị là 109.506.010 đồng.

Kết quả thu giữ vật chứng: 10 bảng điều khiển Smartgen HQM6110U; 20 bảng điều khiển Smartgen HQM6120U; 10 bộ điều chỉnh điện áp tự động SX460-R; 10 bộ điều chỉnh điện áp tự động SX440-R; 10 bảng điều khiển máy phát điện LXC 701; 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, số IMEIL: 353109112679388, số IMEI2: 353109113679387, có gắn sim trên sim có dãy số 898402000 11265022192 (đã qua sử dụng); 01 (một) xe mô tô Wave màu xanh, biển số: 59Y2

- 310.87.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 79/2022/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện B1, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn L phạm tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới”. Căn cứ khoản 1 Điều 189; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Văn L 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01-8-2022.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 03-10-2022, bị cáo L làm đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa P thẩm, bị cáo Bùi Văn L giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, xin được giảm nhẹ hình phạt.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu quan điểm về vụ án:

Về tố tụng: Các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm, P thẩm thực hiện đúng với trình tự tố tụng theo quy định của pháp luật và hợp pháp.

Về nội dung: Bản án hình sự sơ thẩm xử phạt bị cáo Bùi Văn L 09 tù về tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ gì mới cho yêu cầu của mình, nên không có cơ sở chấp nhận, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 355, 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo L; giữ nguyên bản án hình sư sơ thẩm.

Bị cáo không tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Bị cáo Bùi Văn L kháng cáo trong thời hạn luật định, nên đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục P thẩm.

Bị cáo Bùi Văn L khai, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử vụ án tại cấp sơ thẩm, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm. Do đó, quá trình điều tra, truy tố và xét xử của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng ở cấp sơ thẩm là hợp pháp, đúng pháp luật.

Vào hồi 18 giờ 30 phút ngày 28-6-2022, Cảnh sát kinh tế Công an huyện B1, tỉnh Tây Ninh phối hợp Công an xã T, huyện B1 tuần tra tại khu vực biên giới gần chốt cảnh giới Biên phòng “Cầu Trắng” thuộc ấp R, xã T, huyện B1, tỉnh Tây Ninh phát hiện Bùi Văn L điều khiển xe mô tô Wave màu xanh, biển số 59Y2-310.87 vận chuyển 03 thùng giấy carton bên trong chứa 10 bảng điều khiển Smartgen HQM6110U; 20 bảng điều khiển Smartgen HQM6120U; 10 bộ điều chỉnh điện áp tự động SX460-R; 10 bộ điều chỉnh điện áp tự động SX440-R và 10 bảng điều khiển máy phát điện LXC 701 qua biên giới có giá trị 109.506.010 đồng thì bị bắt quả tang. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Bùi Văn L về tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới” theo quy định tại khoản 1 Điều 189 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Vụ án có tính chất ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của mình gây ra.

Xét thấy, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 09 tháng tù là nặng so với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, do đó chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa, đề nghị của Kiểm sát viên chưa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên không được chấp nhận.

Đối với xe mô tô Wave màu xanh, biển số 59Y2-310.87, theo kết quả giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Tây Ninh, xe có số khung bị đục xóa không xác định được số nguyên thủy, không có giấy tờ hợp pháp, do đó chuyển đến Công an huyện B1, tỉnh Tây Ninh xử lý theo quy định của pháp luật đối với mô tô không có giấy tờ hợp pháp. Cấp sơ thẩm tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước là chưa đúng.

Về án phí hình sự P thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận, nên bị cáo L không phải chịu án phí hình sự P thẩm theo điểm d khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH;

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Bùi Văn L.

Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 79/2022/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện B1, tỉnh Tây Ninh.

1. Tuyên bố bị cáo Bùi Văn L phạm tội “Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới”.

Căn cứ khoản 1 Điều 189; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Văn L 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01-8-2022.

2. Chuyển một xe mô tô Wave màu xanh, biển số 59Y2-310.87 không có giấy tờ hợp pháp đến Công an huyện B1, tỉnh Tây Ninh để xử lý theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí hình sự P thẩm: Bị cáo Bùi Văn L không phải chịu án phí hình sự P thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án P thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ P THẨM

Cỡ chữ