vanban.org

Bản án 205/2021/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 21/05/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/05/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

VKSND Tp.HCM; VKSND Q.TB;

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm Bản án 22/2021/HS-ST Tuyên án 27/01/2021
Phúc thẩm — đang xem Bản án 205/2021/HS-PT Tuyên án 21/05/2021

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thạch S - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 205/2021/HS-PT
Ngày 21 - 05 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình

Các Thẩm phán: 1. Ông Trương Công Huấn

2. Bà Đoàn Thị Hương Giang

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bảo Quốc - Thư ký Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 05 năm 2021, tại trụ sở Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 109/HSPT ngày 10 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo Nguyễn Thạch S do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2021/HS-ST ngày 27/01/2021 của Tòa án nhân dân quận TB, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Thạch S, sinh ngày 10 tháng 6 năm 2001, nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: 401 đường Phạm Văn C, phường 14, quận Gò V, Thành phố Hồ Chí Minh, chỗ ở: như trên; nghề nghiệp: sửa xe; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Đạo Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị Hền D; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/8/2020 đến nay “có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thụy H và anh Trịnh Duy T là người làm chung trong Công ty LegalMen. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 08/02/2020. Trịnh Duy T cùng các anh Nguyễn Xuân Hải và Nguyễn Quang Văn đang ngồi uống nước tại quán café số 232/10 Cộng Hòa, phường 12, quận TB, thành phố Hồ Chí Minh thì Nguyễn Thụy H đến xin anh T cho vào nhóm làm việc lại vì trước đó anh T đã cho H ra khỏi nhóm do H không hoàn thành tốt công việc. Anh T không đồng ý, H dùng tay đánh vào mặt anh T một cái, được anh Hải và anh Văn can ngăn nên H bỏ đi. Đến khoảng 11 giờ ngày 08/02/2020 Nguyễn Thụy H rủ Nguyễn Thạch S và 04 người (không rõ lai lịch) đi đánh T. Trên đường đi, H mua 01 con dao kim loại dài khoảng 60cm đưa cho S, S cất giấu dao trong người. Khoảng 12 giờ cùng ngày, cả nhóm đến quán café số 232/10 Cộng Hòa, Phường 12, quận TB nơi anh T đang ngồi, H xuống xe rút cây dũ 3 khúc ra chỉ anh T cho S biết, S xuống xe cầm dao bằng tay phải chạy đến vị trí anh T đang ngồi chém 01 nhát từ trên xuống, anh T giơ tay trái lên đỡ đồng thời dùng chân đẩy bàn ra làm trúng chân S, S chém thêm 01 nhát vào bắp tay trái của anh T. Thấy vậy, anh T, anh Hải và anh Văn cùng bỏ chạy. Sau khi chém anh T, nhóm của S và H lên xe bỏ trốn khỏi hiện trường, trên đường đi S đã ném bỏ con dao xuống sông trên địa bàn quận Gò Vấp. Ngày 13/4/2020, Nguyễn Thạch S đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận TB đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 22/2021/HS-ST ngày 27/01/2021 của Tòa án nhân dân quận TB, Thành phố Hồ Chí Minh đã ra quyết định: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thạch S phạm tội: “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Nguyễn Thạch S: 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên xử về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định. Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 04/01/2021, bị cáo Nguyễn Thạch S kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với bản án sở thẩm đã nêu và thay đổi nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt hoặc cHển sang loại hình phạt cải tạo không giam giữ vì bị cáo phạm tội nhất thời, nghe theo rủ rê của bạn bè, rất ăn hăn hối hận, đã bồi thường cho bị hại và được bị hại bãi nại. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sau khi phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ nhận định án sở thẩm đã xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tại phiên tòa bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt hoặc cHển sang loại hình phạt cải tạo không giam giữ, về nội dung kháng cáo xin cHển sang loại hình phạt cải tạo không giam giữ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật. Đối với việc xin giảm nhẹ hình phạt, xét thấy bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm, đã bồi thường toàn bộ thiệt hại, được bị hại bãi nại, có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm.

Bị cáo nói lời sau cùng: Mong Hội đồng xét xử xem xét cHển sang hình phạt cải tạo không giam giữ cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về hình thức: Sau khi xét xử sơ thẩm đến ngày 04/01/2021, bị cáo Nguyễn Thạch S kháng cáo và tại phiên tòa bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo xin được áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ. Xét kháng cáo được làm trong thời hạn luật định là hợp lệ, cần chấp nhận để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm cũng như phiên tòa phúc thẩm có đủ cơ sở để xác định:

Do có mâu thuẫn trước đó với anh Trịnh Duy T là người làm chung trong Công ty nên Nguyễn Thụy H đã rủ rê Nguyễn Thạch S đi đánh Trịnh Duy T. Khoảng 12 giờ ngày 08/2/2020, khi tìm thấy T thì Nguyễn Thạch S đã dùng dao đánh Trịnh Duy T gây thương tích cho T với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 15%.

Với hành vi đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Thạch S về tội: “Cố ý gây thương tích”, theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo về nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và xin cHển sang hình phạt cải tạo không giam giữ. Hội đồng xét xử nhận thấy: trong vụ án này, đối tượng chủ mưu, rủ rê bị cáo thực hiện hành vi phạm tội là Nguyễn Thụy H đã bỏ trốn, bị cáo phạm tội vì động cơ giúp đỡ bạn bè, với vai trò đồng phạm là người thực hành, không phải là người chủ mưu trong vụ án, sau khi phạm tội đã ra đầu thú. Do đó, cần xem xét các tình tiết này để áp dụng Điều 3; Điều 17, Điều 58 về nguyên tắc xử lý tội phạm đối với người đồng phạm, người phạm tội đầu thú theo chính sách khoan hồng của Bộ luật hình sự.

Xét thấy, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện tác động gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại và bị hại đã có đơn bãi nại cho bị cáo. Hơn nữa, tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại cũng có đơn gửi cho Hội đồng xét xử phúc thẩm đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, khi lượng hình cần xem xét để áp dụng hình phạt phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên khi lượng hình Hội đồng xét xử áp dụng thêm khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội với vai trò đồng phạm, không phải là người chủ mưu, sau khi phạm tội đã ra đầu thú nên xét không cần bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát theo quy định tại Điều 36 Bộ luật Hình sự cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo cũng như răn đe phòng ngừa chung cho xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm. Xét bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, hiện nay đang trực tiếp nuôi dưỡng cha mẹ nên miễn việc khấu trừ thu nhập hàng tháng đối với bị cáo. [4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thạch S. Sửa Bản án sơ thẩm số 22/2021/HS-ST ngày 27/01/2021 của Tòa án nhân dân quận TB, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 3; Điều 17; Điều 36; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo: Nguyễn Thạch S 03 (Ba) năm cải tạo không giam giữ về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án hoặc trích sao bản án. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú là Ủy ban nhân dân Phường 14, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân Phường 14 trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự. Miễn việc khấu trừ thu nhập hàng tháng đối với bị cáo. Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm về các vấn đề không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ