vanban.org

Bản án 205/2020/HSST — Hình sự

TAND TP. Nam Định, tỉnh Nam Định Tuyên án 30/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Điệp H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Lê Điệp H 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo được tính từ ngày 14 tháng 3 năm 2020. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy trong phong bì niêm phong số 321/GĐKTHS (vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 18 tháng 5 năm 2020 giữa Công an thà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Điệp H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Điệp H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ N
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 205/2020/HSST
Ngày: 30-6-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Nguyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Mai.

Ông Lê Quang Bảo.

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Nhung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố N.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Trung - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 18 tháng 6 năm 2020, ngày 25 tháng 6 năm 2020, ngày 30 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định. Toà án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 170/2020/TLST-HS ngày 26-5-2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 170/2020/QĐ-HSST ngày 04-6-2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Điệp H, sinh năm 1979 tại tỉnh Ninh Bình; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Số nhà 02/287 phố K, phường N, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Minh Đ và bà Lưu Thị C; có vợ Phạm Thị T và chưa có con; tiền án: Ngày 30-10-2013 Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 10-11-2016 Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xử phạt 27 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 24-6-2005 Tòa án nhân dân thị xã Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 15-02-2008 Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 26-7-2012 Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 14 tháng 3 năm 2020 sau đó chuyển tạm giam đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định; bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người làm chứng: Anh Phạm Văn L và anh Trần Hữu T, chị Phạm Thị T (có mặt tại phiên tòa ngày 25 tháng 6 năm 2020).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 00 ngày 13 tháng 3 năm 2020, Tổ công tác Công an phường Đ, thành phố N làm nhiệm vụ tại khu vực đường đê sông Đ đối diện số nhà 70 đường Thành N, phường X, thành phố N phát hiện Lê Điệp H đang đi bộ một mình có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, Tổ công tác phát hiện, thu giữ trong lòng bàn tay phải của H có 01 gói nhỏ giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng (H khai là Heroine). Tổ công tác tiến hành niêm phong vật chứng, đưa H và mời người làm chứng về trụ sở Công an phường Đ, thành phố N lập biên bản phạm tội quả tang theo quy định pháp luật.

Bản kết luận giám định số 321/GĐKTHS ngày 17-3-2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận vật chứng thu giữ của Lê Điệp H niêm phong gửi giám định là ma túy, loại ma túy: Heroine, khối lượng 0,195 gam (không phẩy một trăm chín mươi năm gam).

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N: Lê Điệp H đã khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng và khai nhận nguồn gốc của gói ma túy trên như sau: Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 13-3-2020 H đi xe ôm từ nhà bố vợ tại thị trấn Nam Giang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định đến khu vực đường Thành N, phường X, thành phố N mục đích mua ma túy về sử dụng. Khi đến nơi, H trả tiền xe ôm rồi đi bộ vào đường Thành N lối ra sông Đ, phường X, thành phố N gặp và mua của 01 người phụ nữ (không rõ lai lịch) 01 gói ma túy với giá 100.000 đồng. H cầm gói ma túy vừa mua trong tay phải và đi bộ ra đường đê sông Đ đối diện số nhà 70 đường Thành N, phường X, thành phố N thì bị phát hiện, bắt giữ.

Bản Cáo trạng số 170/CT-VKSTPNĐ ngày 25-5-2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố Lê Điệp H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Trong quá trình đưa vụ án ra xét xử bị cáo có đơn khai rằng vào tối ngày 13 tháng 3 năm 2020 còn có vợ bị cáo là Phạm Thị T đi cùng và cũng phạm tội với bị cáo. Tại phiên tòa ngày 18 tháng 6 năm 2020 vắng mặt những người làm chứng được Tòa án triệu tập là anh Phạm Văn L, anh Trần Hữu T và chị Phạm Thị T nên Hội đồng xét xử đã ra quyết định hoãn phiên toà và ra quyết định dẫn giải những người làm chứng đến phiên tòa.

Tại phiên toà ngày 25 tháng 6 năm 2020 bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, tuy nhiên bị cáo vẫn khai báo trong vụ án còn có vợ bị cáo là Phạm Thị T cùng thực hiện hành vi phạm tội với bị cáo và bị cáo khai khoảng 17 giờ ngày 13-3-2020 bị cáo đến Công ty MCNEX VINA tại khu công nghiệp Phúc Sơn, phường Ninh Sơn, thành phố Ninh Bình nơi vợ bị cáo làm việc đứng chờ đón vợ vì trước cổng Công ty có Camera an ninh ghi lại hình ảnh bị cáo đón vợ đi làm về, đồng thời lúc vợ chồng bị cáo đi từ Ninh Bình ra thành phố N trên đường 10 có đi qua ngã tư đèn xanh đèn đỏ (lối rẽ vào khu công nghiệp Bảo Minh) cũng có Camera an ninh ghi lại hình ảnh vợ chồng bị cáo đều đi ra thành phố N để mua ma túy sử dụng.

Tại phiên toà ngày 25 tháng 6 năm 2020 lời khai của người làm chứng là anh Phạm Văn L và anh Trần Hữu T đều xác nhận quá trình Công an phường Đ kiểm tra, bắt giữ, niêm phong vật chứng thu giữ của bị cáo Lê Điệp H vào tối ngày 13 tháng 3 năm 2020 đều được lập biên bản và có chữ ký xác nhận của bị cáo và của những người làm chứng là anh L và anh T. Ngoài ra Cơ quan Công an cũng không thu giữ tài sản gì của bị cáo, cũng không kiểm tra bắt giữ thêm ai. Chị Phạm Thị T xác nhận chị là vợ bị cáo Lê Điệp H. Ngày 13 tháng 3 năm 2020 chị đi làm tại Công ty MCNEX VINA tại khu công nghiệp Phúc Sơn, phường Ninh Sơn, thành phố Ninh Bình đến 8 giờ tối mới về, chị không đi cùng bị cáo H ra thành phố N. Ngày hôm sau chị được biết chồng chị bị Công an bắt giữ về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý. Chị khẳng định lời khai của bị cáo cho rằng chị cùng đồng phạm với bị cáo trong vụ án tàng trữ ma tuý là không đúng. Do vậy, Hội đồng xét xử đã Quyết định tạm ngừng phiên toà để yêu cầu Viện kiểm sát nhân dân thành phố N bổ sung tài liệu, chứng cứ.

Tại phiên toà ngày 30 tháng 6 năm 2020 căn cứ vào kết quả xác minh thu thập bổ sung tài liệu, chứng cứ ngày 27 tháng 6 năm 2020 được công bố tại phiên toà thì các Camera an ninh tại cổng Công ty MCNEX VINA, dữ liệu và hình ảnh đã ghi chỉ lưu giữ trong vòng một tháng nên dữ liệu và hình ảnh Camera ngày 13 tháng 3 năm 2020 Công ty không còn lưu giữ. Đối với vị trí đèn xanh đèn đỏ (lối rẽ vào khu công nghiệp Bảo Minh) trên đường 10 hướng thành phố Ninh Bình đi thành phố N không có Camera quan sát nào được gắn trên các cột đèn tín hiệu giao thông đường bộ. Sau khi công bố các tài liệu xác minh, bị cáo không có ý kiến gì và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã nêu là đúng. Ngoài ra bị cáo không có ý kiến gì khác.

Bị cáo Lê Điệp H cũng xác nhận trong quá trình điều tra, truy tố không bị Cơ quan tiến hành tố tụng ép cung, bức cung hay nhục hình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N luận tội và tranh luận: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lê Điệp H theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Lê Điệp H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Phạt bị cáo Lê Điệp H từ 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng đến 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ số ma tuý đã thu giữ của bị cáo.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Điệp H có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có sự mâu thuẫn và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản thu giữ vật chứng; bản kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định; lời khai của những người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ nên đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 13-3-2020, tại khu vực đường đê sông Đ đối diện số nhà 70 đường Thành N, phường X, thành phố N, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,195 gam Heroine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây mất trật tự an ninh xã hội trên địa bàn thành phố N, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo đã tái phạm chưa được xóa án tích nay lại thực hiện hành vi phạm tội về tội rất nghiêm trọng do cố ý nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”. Việc truy tố và đưa ra xét xử bị cáo theo điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.

Về việc bị cáo khai là có đồng phạm và yêu cầu trả hồ sơ điều tra bổ sung, Hội đồng xét xử xét thấy những người làm chứng được Toà án triệu tập đều có mặt tại phiên tòa ngày 25-6-2020 có lời khai và đã được đối chất với bị cáo đều thể hiện quá trình Công an phường Đ, thành phố N kiểm tra, bắt giữ, niêm phong vật chứng của bị cáo thì bị cáo và những người làm chứng là anh L, anh T đều có mặt và ký xác nhận theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình Viện kiểm sát xác minh thu thập bổ sung tài liệu, chứng cứ và được Hội đồng xét xử công bố tại phiên toà ngày 30 tháng 6 năm 2020, tại địa điểm Camera an ninh trước cổng Công ty MCNEX VINA tại khu công nghiệp Phúc Sơn, phường Ninh Sơn, thành phố Ninh Bình thể hiện dữ liệu và hình ảnh ngày 13 tháng 3 năm 2020 Công ty không còn lưu và cũng không có Camera an ninh nào được gắn trên các cột đèn tín hiệu giao thông đường bộ tại ngã tư đèn xanh đèn đỏ (lối rẽ vào khu công nghiệp Bảo Minh) như bị cáo khai. Căn cứ vào lời khai của những người làm chứng và kết quả đối chất với bị cáo tại phiên toà, kết quả xác minh thu thập bổ sung tài liệu, chứng cứ ngày 27 tháng 6 năm 2020 thì không có cơ sở để xác định chị Phạm Thị T là đồng phạm với bị cáo trong vụ án đồng thời trong quá trình xét xử bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố và không có ý kiến đề nghị gì khác. Vì vậy, không có cơ sở để Hội đồng xét xử trả hồ sơ điều tra bổ sung như đề nghị của bị cáo.

Các tình tiết Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi Quyết định hình phạt đối với bị cáo:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng là người có nhân thân xấu.

Từ những phân tích, đánh giá nêu trên đối với hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhưng dưới mức đề xuất của Viện kiểm sát là phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...”. Xét thấy bị cáo tàng trữ ma túy với mục đích để sử dụng nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: 01 gói ma túy trong phong bì niêm phong số 321/GĐKTHS là vật Nhà nước cấm tàng trữ nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với đối tượng đã bán ma túy cho Lê Điệp H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đang tiến hành xác minh nên tách ra tiếp tục điều tra, xử lý sau là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

- Tuyên bố bị cáo Lê Điệp H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

- Xử phạt bị cáo Lê Điệp H 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo được tính từ ngày 14 tháng 3 năm 2020.

2. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy trong phong bì niêm phong số 321/GĐKTHS (vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 18 tháng 5 năm 2020 giữa Công an thành phố N và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N).

3. Án phí: Bị cáo Lê Điệp H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Lê Điệp H được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành hoặc cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ