- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Tuấn A phạm tội Môi giới mại dâm - phạm tội môi giới mại dâm (điều 328 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 205/2019/HS-PT Ngày 20/11/2019 - Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Phồn Các Thẩm phán: Ông Vi Văn Chắt; bà Nguyễn Thị Thu Từ tỉnh Nghệ An. Thanh Hà - Kiểm sát viên. phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 238/2019/TLPT-HS ngày 18 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo Lê Tuấn A do có kháng cáo của bị cáo Lê Tuấn A, đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 325/2019/HS- ST ngày 26 tháng 7 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Bị cáo có kháng cáo: Thôn 3, xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh, Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt N; Tôn giáo: không; con ông Lê Quang H và bà Nguyễn Thị A1; Vợ: Hoàng Thị K (đã ly hôn); Tiền án, tiền sự: Chưa; Bị tạm giữ từ ngày 11/4/2019 đến 20/4/2019. Hiện tại ngoại. Có mặt. | Ngày 20 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An mở |
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu năm 2018, Lê Tuấn A sử dụng sim điện thoại có số thuê bao 0921152166 để lập tài khoản Zalo có tên “Q” và sim điện thoại có số thuê bao 0927440871 để lập tài khoản Zalo có tên “T”, sau đó Lê Tuấn A sử dụng điện thoại thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Grand màu xám, số Imei 353420071096583, trong máy sử dụng số thuê bao 0921152166 và lập tài khoản có tên “C” để đăng các bài viết trên trang web “Xamvn.com” với nội dung môi giới mại dâm, trên các bài viết TA để lại số điện thoại 0921152166 và số 0927440871 để ai có nhu cầu mua dâm thì liên hệ. TA cũng thông qua hai tài khoản Zalo trên, sử dụng chức năng “tìm quanh đây” để tìm kiếm, lôi kéo các cô gái trẻ đẹp làm gái bán dâm. Sau khi tìm được người đồng ý, TA nhẵn tin thông qua ứng dụng Zalo với những người này để thống nhất cách thức mua bán dâm và chia tiền mỗi lần môi giới thành công. Khi có khách cần mua dâm nhắn tin, TA thỏa thuận xem khách cần bao nhiêu người bán dâm, giá cả và lấy số điện thoại của khách mua dâm. Sau khi chọn được người bán dâm phù hợp, TA thống nhất với người cần mua dâm địa điểm, thời gian thực hiện hành vi mua bán dâm và nhắn tin số điện thoại của khách cho người bán dâm, sau đó TA sẽ hẹn người bán dâm ở một địa điểm cụ thể để người bán dâm đưa tiền công môi giới bán dâm cho TA. Số tiền TA được hưởng tùy thuộc vào từng lần môi giới bán dâm thành công. Thông thường tỷ lệ là 40/60, TA được hưởng 40%.
Do biết Lê Tuấn A có mối người bán dâm, ngày 10/4/2019, Nguyễn Văn M, sinh năm 1987, trú tại xóm 12, xã N, thành phố V và Trần Văn N, sinh năm 1996, trú tại xóm 20, xã N, thành phố V có số điện thoại 0865626648 rủ nhau đi mua dâm. Cả hai thống nhất để Nguyễn Văn M sử dụng tài khoản Zalo có tên “Mb" được đăng ký bởi số điện thoại 0963382886 nhắn tin đến Zalo “Q” của TA để yêu cầu môi giới mại dâm. Sau khi thỏa thuận, M yêu cầu TA môi giới 02 người bán dâm cho M và N, giá 01 lần mua dâm là 4.000.000 (bốn triệu) đồng. Sau khi thỏa thuận với khách mua dâm, Lê Tuấn A nhắn tin cho Hoàng Thị T, sinh năm 1993, trú tại xã T, huyện Đ, Hà Tĩnh có tài khoản Zalo là “B”, số điện thoại 0974253776 đi bán dâm cho Nguyễn Văn M và Nguyễn Thị H, sinh năm 1998, trú tại xã Đ1, huyện Đ, Hà Tĩnh có tài khoản zalo “M” sử dụng số điện thoại 0965394091 đi bán dâm cho Trần Văn N. Sau khi được H và T đồng ý đi bán dâm, Nguyễn Văn M nhắn tin cho TA để báo cho H và T biết địa điểm mua bán dâm là khách sạn L, số 43 đường Q, thành phố V, Nghệ An. Nhận được số điện thoại của khách mua dâm, Hoàng Thị T gọi vào số điện thoại 0963382886 của M và hẹn địa điểm mua bán dâm ở phòng 801, Nguyễn Thị H gọi vào số điện thoại 0865626648 của N hẹn địa điểm mua bán dâm là phòng 805 khách sạn L.
Đến khoảng 21 giờ 30 phút ngày 10/4/2019, khi Nguyễn Văn M và Hoàng Thị T đang thực hiện hành vi mua bán dâm tại phòng 801, Trần Văn N và Nguyễn Thị H đang thực hành vi mua bán dâm tại phòng 805 khách sạn L thì bị tổ công tác phòng cảnh sát hình sự, công an tỉnh Nghệ An kiểm tra lập biên bản sự việc, thu giữ 02 bao cao su đã qua sử dụng, 02 vỏ bao cao su, số tiền 8.000.000đ các đối tượng dùng để mua bán dâm và 06 chiếc điện thoại di động được sử dụng để liên lạc.
Đến ngày 11/4/2919, cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Nghệ An đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Lê Tuấn A về hành vi môi giới mại dâm.
Với nội dung trên tại Bản án số 325/2018/HSST ngày 26/7/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo: Lê Tuấn A phạm tội "Môi giới mại dâm".
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 328; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Tuấn A 21 (hai mươi mốt) tháng tù; Thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án, nhưng được trừ thời gian bị tạm giữ trước đó (từ 11/4/2019 đến 20/4/2019).
Ngoài ra bản án còn tuyên án về án phí và xử lý vật chứng, quyền kháng cáo của bị cáo.
Ngày 30/7/2019, bị cáo Lê Tuấn A kháng cáo với nội dung: Xin hưởng án treo. Tại phiên tòa bị cáo bổ sung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như bản án sơ thẩm mà Tòa án nhân dân thành phố Vinh đã xét xử. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với các chứng cứ, vật chứng đã thu thập được có tại hồ sơ.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa đề nghị chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo. Sửa án sơ thẩm, giảm hình phạt cho bị cáo, xử phạt bị cáo khoảng 15 tháng tù, nhưng không cho hưởng án treo.
Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm . Căn cứ vào kết quả tranh luâ ̣n ta ̣i phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ , toàn diện tài liê ̣u chứ ng cứ , ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Lê Tuấn A thừa nhận hành vi phạm tội như cấp sơ thẩm là đúng, bị cáo không kháng cáo về tội danh, bị cáo chỉ kháng cáo xin hưởng án treo và xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo cho rằng cấp sơ thẩm xử phạt 21 (hai mốt) tháng tù là quá nặng, vì gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, cha già yếu, mẹ bị bệnh ung thư giai đoạn cuối, bị cáo có công phát hiện giúp công an Hà Tĩnh phát hiện tội phạm, chưa được hưởng lợi, có công cứu giúp người đuối nước.
Xét nội dung dung kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy rằng: Ngày 10/4/2019, Nguyễn Văn M, Trần Văn N rủ nhau đi mua dâm, M liên lạc qua tin nhắn zalo với Lê Tuấn A và thống nhất tìm 02 người bán dâm, giá mỗi lần mua dâm 01 người là 4.000.000đ. TA nhắn số điện thoại của M và N cho 02 người bán dâm là Hoàng Thị T và Nguyễn Thị H để H, T chủ động liên lạc và hẹn địa điểm mua bán dâm. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày khi M và T đang thực hiện hành vi mua bán dâm tại phòng 801, N và H đang thực hiện hiện hành vi mua bán dâm tại phòng 805 khách sạn L tại đường Q, thành phố V thì bị lực lượng chức năng kiểm tra phát hiện, lập biên bản.
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội "Môi giới mại dâm" được qui định tại khoản 2 Điều 328 BLHS. Cấp sơ thẩm đã xem xét hành vi bị cáo phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ xử phạt bị cáo Lê Tuấn A 21 (hai mốt) tháng tù, là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
Về kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt: Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại nền tảng đạo đức, gây mất trật tự trị an xã hội. Lẽ ra giữ nguyên mức hình phạt, vì án sơ thẩm đã xử phạt dưới mức thấp nhất khung hình phạt. Tuy nhiên xét bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ như: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chưa có tiền án tiền sự, lần đầu phạm tội, thu lợi bất chính không lớn, ông nội bị cáo là người có công được tặng thưởng huân huy chương, bị cáo có thành tích trong việc giúp cơ quan pháp luật phát hiện điều tra tội phạm. Đặc biệt tại cấp phúc thẩm có thêm tình tiết giảm nhẹ cứu giúp người đuối nước được công an xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh xác nhận, được chính quyền tặng giấy khen. Do đó, cần khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo. Xét: Mại dâm cùng với ma tuý là tệ nạn xã hội, đây là loại tội phạm phát triển, diễn biến phức tạp. Do đó cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bảo đảm việc giáo dục riêng và phòng ngừa chung, đáp ứng tình hình đấu tranh phòng chống loại tội phạm này. Nên không chấp nhận việc kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo, như đại diện Viện kiểm sát đề nghị.
Các quyết định khác không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên:
́
QUYÊT ĐI ̣NH
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, giảm hình phạt cho bị cáo Lê Tuấn A
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 328, điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 BLHS, Điều 136 BLTTHS, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, xử phạt: Bị cáo Lê Tuấn A 15 (mười lăm) tháng tù, về tội “Môi giới mại dâm”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, nhưng được trừ thời gian đã bị tạm giữ (từ ngày 11/4/2019 đến 20/4/2019)
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí: Bị cáo Lê Tuấn A không phải chịu án hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Nghệ An; - TAND, Chi cục THADS, Công an thành phố Vinh - Bị cáo - Lưu HS | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đăng Phồn |