vanban.org

Bản án 205/2019/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản

TAND TP. Hà Nội Tuyên án 22/07/2019 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/07/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 03/2018/DS-ST ngày 12/3/2018 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội về vụ án “Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất” giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ông Bùi Khắc T; sinh năm: 1976; địa chỉ : Số B ngách 144/4 phố Quan Nhân, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản — án dân sự — "T-Tr"
  • Tòa quyết gì? Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 03/2018/DS-ST ngày 12/3/2018 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội về vụ án “Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất” giữa các đương sự:
  • Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-------------
Bản án số: 205/2019/DS-PT
Ngày: 22/7/2019

V/v: Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Như Lâm

Các thẩm phán:

Bà Trần Thị Liên Anh

Ông Vũ Viết Văn

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Vương Thùy Dương - Cán bộ Toà án nhân nhân thành phố Hà Nội

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội: Ông Nguyễn Mạnh Thắng - Kiểm sát viên

Trong ngày 22/7/2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 151/2018/TLPT - DS ngày 07/6/2018 về: Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 03/2018/DS-ST ngày 12/3/2018 của Toà án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 250/2018/QĐ-PT ngày 06/8/2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

1.1. Ông Bùi Khắc T; sinh năm: 1976; địa chỉ : Số B ngách 144/4 phố Quan Nhân, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội; có mặt tại phiên tòa.

Người đại diện theo ủy quyền của ông T là ông Lê Văn L; sinh năm: 1985; địa chỉ: số Y phố Vũ Phạm Hàm, phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội; theo văn bản ủy quyền ngày 13/8/2018; có mặt tại phiên tòa.

1.2. Bà Trần Thị H; sinh năm: 1977; địa chỉ : Số B ngách 144/4 phố Quan Nhân, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội; có mặt tại phiên tòa.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Bùi Khắc T và bà Trần Thị H có Luật sư Ngô Anh Tuấn – Văn phòng Luật sư Ngô Anh Tuấn – Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội; địa chỉ liên hệ: 23M2 khu đô thị Yên Hòa, phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội; vắng mặt tại phiên tòa.

2. Bị đơn:

2.1. Ông Bùi Khắc Tr; sinh năm: 1952; có mặt tại phiên tòa

2.2. Bà Nguyễn Thị K; sinh năm: 1969; vắng mặt tại phiên tòa

Ông Tr, bà K cùng cư trú tại: thôn Thanh Sơn, xã Minh Phú, huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội. Bà Nguyễn Thị K ủy quyền cho ông Bùi Khắc Tr theo văn bản ủy quyền ngày 06/12/2017.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án:

3.1. Cháu Bùi C.A; sinh năm: 2005; người đại diện theo pháp luật là ông Bùi Khắc T và và bà Trần Thị H (bố mẹ đẻ); địa chỉ : Số B ngách 144/4 phố Quan Nhân, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội; ông T và bà H có mặt tại phiên tòa.

3.2. Cháu Bùi B.S; sinh năm: 2008 người đại diện theo pháp luật là ông Bùi Khắc T và và bà Trần Thị H (bố mẹ đẻ); địa chỉ : Số B ngách 144/4 phố Quan Nhân, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội; ông T và bà H có mặt tại phiên tòa.

4. Người kháng cáo: ông Bùi Khắc T và bà Trần Thị H là nguyên đơn.

NHẬN THẤY :

Ngày 18 tháng 11 năm 2016, bà Trần Thị H và ông Bùi Khắc T có đơn khởi kiện vụ án dân sự về việc Tranh chấp “hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất” đối với ông Bùi Khắc Tr và bà Nguyễn Thị K, yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:

Đề nghị Tòa án công nhận quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp, buộc ông Bùi Khắc Tr và bà Nguyễn Thị K phải hoàn tất thủ tục tặng cho nhà đất tại Số B ngách 144/4 phố Quan Nhân, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội theo hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 30/3/2015 cho bà Trần Thị H và ông Bùi Khắc T theo đúng quy định của pháp luật.

Sau khi hai bên ký hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, nguyên đơn đã chuyển đến ở trên nhà đất được tặng cho theo hợp đồng. Quá trình sử dụng có sửa chữa, cơ nới tầng 3, sân phơi, lát gạch. Trong trường hợp yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán lại cho nguyên đơn giá trị phần cơi nới, sửa chữa trên. Ngoài các yêu cầu trên, nguyên đơn không còn yêu cầu nào khác. Kèm theo đơn khởi kiện, người khởi kiện đã nộp các tài liệu, chứng cứ sau đây:

+ Bản sao hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 30/3/2015, bản sao hồ sơ kỹ thuật thửa đất số 2444/2015/HSKT ngày 30.3.2015 do Công ty cổ phần tư vấn thiết kế khảo sát đo đạc và bản đồ đo vẽ; photo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BĐ 679899 do Chủ tịch UBND quận Thanh Xuân cấp cho ông Bùi Khắc Tr ngày 23/12/2011.

+ Bản photo Giấy đăng ký kết hôn của ông T, bà H.

+ Bản photo Biên bản hòa giải tại Ủy ban nhân dân phường Nhân Chính ngày 05/10/2016 và 13/10/2016;

+ Bản photo sổ hộ khẩu gia đình và chứng minh thư nhân dân.

* Bị đơn xác nhận việc ký kết hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa hai bên. Hợp đồng không có công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật mà chỉ có sự làm chứng của Văn phòng luật sư Đ.N. Tuy nhiên, bị đơn không đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng vì cho rằng: lý do bị đơn ký hợp đồng tặng cho nhà đất cho nguyên đơn là do nguyên đơn đã gây khó khăn cho bị đơn khi bị đơn thực hiện quyền sở hữu sử dụng của mình. Cụ thể, năm 2014, ông có nhờ anh T, chị H đứng tên hợp đồng tín dụng vay hộ số tiền 830.000.000 đồng tại Ngân hàng T, tài sản thế chấp nhà nhà đất của ông tại số B ngách 144/4 phố Quan Nhân. Năm 2015, ông đã trả xong số tiền vay cho Ngân hàng, muốn làm thủ tục thanh lý hợp đồng vay nhưng anh T chị H không làm nên ông không thể thanh lý hợp đồng vay và giải chấp tài sản bảo đảm ra được. Anh T chị H yêu cầu ông phải làm hợp đồng tặng cho nhà đất mới làm thủ tục tất toán hợp đồng vay. Do vậy, ông đã phải cùng anh T, chị H đến Văn phòng luật sư Đ.N để làm hợp đồng tặng cho. Ông xác định lý do ký hợp đồng để thực hiện được giao dịch khác nên không đồng ý tiếp tục hoàn thiện việc tặng cho. Đề nghị Tòa án không công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 30/3/2015 giữa nguyên đơn và ông. Ông không đồng ý thanh toán giá trị sửa chữa, cơi nới cho nguyên đơn vì nguyên đơn đã tự ý đến ở phần nhà đất đó, chưa được sự đồng ý của ông.

Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2018/DS-ST ngày 12/3/2018 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân đã xử và quyết định:

* Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất của ông Bùi Khắc T, bà Trần Thị H đối với ông Bùi Khắc Tr, bà Nguyễn Thị K.

* Xác định hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đề ngày 30/3/2015 giữa ông Bùi Khắc T, bà Trần Thị H với ông Bùi Khắc Tr, bà Nguyễn Thị K là hợp đồng chưa phát sinh hiệu lực.

* Buộc ông Bùi Khắc T, bà Trần Thị H, cháu Bùi C.A, Bùi B.S phải trả lại toàn bộ diện tích nhà đất đang quản lý sử dụng tại số B, ngách 144/4 phố Quan Nhân, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội cho ông Bùi Khắc Tr, bà Nguyễn Thị K.

* Ghi nhận sự tự nguyện của ông Bùi Khắc Tr, bà Nguyễn Thị K thanh toán giá trị cơi nới, sửa chữa cho ông Bùi Khắc T, bà Trần Thị H số tiền là 52.541.000 đồng và được sở hữu, sử dụng toàn bộ diện tích cơi nới, sửa chữa của ông Bùi Khắc T, bà Trần Thị H.

* Ngoài các yêu cầu trên, các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề nào khác.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí về lãi suất chậm thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 22/3/2018, Nguyên đơn là ông Bùi Khắc T và bà Trần Thị H kháng cáo đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xem xét giải quyết hình thức của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ký ngày 30/3/2015 hoàn toàn phù hợp với khoản 2 Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2015 Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức “Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên. Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực”.

Tại phiên tòa hôm nay

Người đại diện theo ủy quyền của ông T là ông Luân trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 2 Điều 129 Bộ luật Dân sự 2015 để làm cơ sở quyết định hủy án sơ thẩm và công nhận hiệu lực của hợp đồng tặng cho quyền sử đất ở giữ ông Bùi Khắc Tr, bà Nguyễn Thị K và ông Bùi Khắc T, bà Trần Thị H ký ngày 30/3/2015. Tuy nhiên để triệu tập đầy đủ nhân chứng, đảm bảo sự đánh gía chứng cứ, chứng minh một cách toàn diện, trung thực, khách quan đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm tuyên hủy án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Nguyên đơn là ông Bùi Khắc T và bà Trần Thị H thống nhất trình bày vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và nội dung kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử hủy án sơ thẩm và công nhận hợp đồng hiệu lực của hợp đồng tặng cho quyền sử đất ở giữ ông Bùi Khắc Tr, bà Nguyễn Thị K và ông Bùi Khắc T, bà Trần Thị H ký ngày 30/3/2015.

Luật sư Ngô Anh Tuấn vắng mặt tại phiên tòa có gửi Bản luận cứ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn; quan điểm của Luật sư Ngô Anh Tuấn đồng quan điểm trình bày của ông Lê Văn L.

Bị đơn là ông Bùi Khắc Tr trình bày: có việc ông chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở tại số B, ngách 144/4 phố Quan Nhân, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội cho chị Nguyễn Thị Lệ Thu và anh Nguyễn Văn Mạnh; sau này Ông Tr có biết việc chị Thu và anh Mạnh vay tiền của Ngân hàng thương mại cổ phần Đại Chúng Việt Nam; ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện và nội dung kháng cáo của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Hội đồng xét xử và các đương sự tuân thủ đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ án đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Nhận thấy:

Về hình thức:

Nguyên đơn là ông Bùi Khắc T và bà Trần Thị H làm đơn kháng cáo trong hạn luật định, đã nộp dự phí kháng cáo về hình thức là hợp lệ.

Về nội dung:

Ngày 30/3/2015 tại Văn phòng Luật sư Đ.N, địa chỉ số 17 ngõ 133 phố Thái Hà, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội; ông Bùi Khắc Tr và bà Nguyễn Thị K cùng với ông Bùi Khắc T và bà Trần Thị H đã ký kết hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số 303/2015/HĐLC-LS có sự làm chứng của Văn phòng luật sư với nội dung: ông Bùi Khắc Tr và bà Nguyễn Thị K tặng cho ông Bùi Khắc T và bà Trần Thị H diện tích đất là 100 m2 trong diện tích đất 298 m2 tại thửa đất số 100ª (1p); tờ bản đồ số: F48a-104-10; hình thức sử dụng: Riêng: 298 m2, Chung: 0 m2; mục đích sử dụng: Đất ở đô thị; thời hạn sử dụng: Lâu dài; nguồn gốc sử dụng: Nhận quyền sử dụng đất; địa chỉ: số B ngách 144/4 Quan Nhân, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Về nhà ở tặng cho diện tích xây dựng tặng cho: 68,0 m2; diện tích sàn: 80,0 m2; kết cấu nhà Bê tông; số tầng 02 trong phần nhà ở theo giấy chứng nhận phần nhà ở diện tích sàn nhà: sử dụng 145 m2; kết cấu nhà: Bê tông +Xây gạch; cấp (hạng) nhà ở: ; số tầng: 02+01; năm xây dựng:

; diện tích nhà phụ: ; thời hạn sử dụng: lâu dài.

Về nguồn gốc tài sản là đối tượng tranh chấp của hợp đồng tặng cho: Căn cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của các đương sự, có cơ sở xác định: Nhà đất tại số B, ngách 144/4 phố Quan Nhân, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội, nguyên thủy có diện tích khoảng 460m2, do Ông Tr và vợ là Nguyễn Thị Quảng mua năm 1997, đã được Ủy ban nhân dân quận Thanh Xuân cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đứng tên ông Bùi Khắc Tr và bà Nguyễn Thị Quảng. Quá trình sử dụng, Ông Tr, bà Quảng đã chuyển nhượng một phần. Sau khi bà Quảng mất, Ông Tr và con gái chung của Ông Tr, bà Quảng đã làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế. Ngày 23.12.2011, nhà đất đã đứng tên ông Bùi Khắc Tr, sang tên ông Bùi Khắc Tr và bà Nguyễn Thị K (là vợ thứ 3 của Ông Tr) ngày 04/5/2015.

Tại cấp phúc thẩm bị đơn là Ông Tr trình bày: Do cần gấp 1 khoản tiền để trả nợ, nên ông đã vay 3,5 tỷ đồng của chị Nguyễn Thị Hiền với điều kiện phải thế chấp tài sản là nhà đất tại số B ngách 144/4 phố Quan Nhân, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội dưới hình thức hợp đồng chuyển nhượng nhà và quyền sử dụng đất tại Văn phòng công chứng Tâm Anh, tên người nhận chuyển nhượng là vợ chồng chị Nguyễn Thị Lệ Thu và anh Nguyễn Văn Mạnh năm 2015.

Sau 1 năm ông đến trả tiền cho chị Hiền thì ông mới biết vợ chồng chị Thu, anh Mạnh đã đặt sổ đỏ đứng tên ông và bà K tại Ngân hàng TMCP Đại chúng Việt Nam để vay khoản tiền 8,5 tỷ đồng.

Tòa án có công văn số 11/2019/CV-TA ngày 02/01/2019 gửi Ngân hàng thương mại cổ phần Đại Chúng; ngày 16/01/2019, Ngân hàng thương mại cổ phẩn Đại chúng Việt Nam có công văn số 727/PVB-QL&TCTTS có nội dung:

“...Tài sản đang có tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn đã được ông Nguyễn Khắc Trường và bà Nguyễn Thị K đăng ký sang tên cho bà Nguyễn Thị Lệ Thu và ông Nguyễn Văn Mạnh số 268 ngày 10/9/2015 tại Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Hà Nội – Chi nhánh Thanh Xuân và tài sản tranh chấp đã được thế chấp cho Ngân hàng theo hợp đồng thế chấp số 121/2015/HĐBĐ/PVB-TTBHN ngày 11/9/2015 để bảo đảm cho khoản vay 8.500.000.000 đồng theo hợp đồng vay số 90/2015/HĐTD/PVB-TTBHN ngày 11/9/2015. Trong hợp đồng thế chấp cũng như hợp đồng vay vốn bên vay và bên thế chấp là bà Nguyễn Thị Lệ Thu và chồng là ông Nguyễn Văn Mạnh. Tính đến thời điểm 14/01/2019 khoản nợ của bà Nguyễn Thị Lệ Thu và ông Nguyễn Văn Mạnh đã quá hạn 1138 ngày tính từ thời điểm ngày 14/12/2015; Ngân hàng đã làm việc nhiều lần nhưng bà Thu và ông Mạnh không hợp tác thực hiện nghĩa vụ trả nợ.

Ngân hàng thương mại cổ phần Đại chúng Việt Nam kiến nghị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội:

Đưa Ngân hàng thương mại cổ phần Đại chúng Việt Nam vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.

Đưa bà Nguyễn Thị Lệ Thu và ông Nguyễn Văn Mạnh vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đại chúng Việt Nam theo hợp đồng tín dụng đã kí kết.

Yêu cầu hộ gia đình ông Bùi Khắc T và những người đang chiếm giữ trái pháp luật di rời khỏi tài sản đảm bảo đang được thế chấp tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đại chúng Việt Nam là nhà đất tại địa chỉ số B ngách 114/4 phố Quan Nhân, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội...”.

Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân thụ lý vụ án số 31 ngày 26/7/2017 về việc tranh chấp hợp đồng tặng cho. Như vậy để giải quyết triệt để vụ án cũng như có căn cứ xem xét yêu cầu của các đương sự cần phải đưa Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam, bà Nguyễn Thị Lệ Thu, ông Nguyễn Văn Mạnh vào tham gia tố tụng. Để bảo đảm nguyên tắc xét xử cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm cần phải hủy án sơ thẩm và giao hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo quy định của pháp luật mới đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm do các đương sự không trình bày những nội dung tại phiên tòa xét xử phúc thẩm đây là tình tiết mới nên thẩm phán sơ thẩm không có lỗi chủ quan trong việc giải quyết vụ án.

Từ những nhận định trên Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của ông Bùi Khắc T và bà Trần Thị H.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Về án phí:

Án phí phúc thẩm: Do hủy án sơ thẩm các đương sự không phải chịu án phí phúc thẩm, ông Bùi Khắc T và bà Trần Thị H được nhận lại dự phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ: Khoản 3 Điều 308 và Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH

1. Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 03/2018/DS-ST ngày 12/3/2018 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội về vụ án “Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất” giữa các đương sự:

* Nguyên đơn:

- Ông Bùi Khắc T; sinh năm: 1976; địa chỉ : Số B ngách 144/4 phố Quan Nhân, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền của ông T là ông Lê Văn L; sinh năm: 1985; địa chỉ: số Y phố Vũ Phạm Hàm, phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội; theo văn bản ủy quyền ngày 13/8/2018.

- Bà Trần Thị H; sinh năm: 1977; địa chỉ : Số B ngách 144/4 phố Quan Nhân, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Bùi Khắc T và bà Trần Thị H có Luật sư Ngô Anh Tuấn – Văn phòng Luật sư Ngô Anh Tuấn – Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội; địa chỉ liên hệ: 23M2 khu đô thị Yên Hòa, phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội.

* Bị đơn:

- Ông Bùi Khắc Tr; sinh năm: 1952.

- Bà Nguyễn Thị K; sinh năm: 1969.

Ông Tr, bà K cùng cư trú tại: thôn Thanh Sơn, xã Minh Phú, huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội.

Bà Nguyễn Thị K ủy quyền cho ông Bùi Khắc Tr theo văn bản ủy quyền ngày 06/12/2017.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án:

- Cháu Bùi C.A; sinh năm: 2005; người đại diện theo pháp luật là ông Bùi Khắc T và và bà Trần Thị H (bố mẹ đẻ); địa chỉ : Số B ngách 144/4 phố Quan Nhân, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội.

- Cháu Bùi B.S; sinh năm: 2008 người đại diện theo pháp luật là ông Bùi Khắc T và và bà Trần Thị H (bố mẹ đẻ); địa chỉ : Số B ngách 144/4 phố Quan Nhân, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Thành phố Hà Nội.

2. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội tiếp tục giải quyết theo trình tự sơ thẩm theo thủ tục chung.

3. Về án phí:

Án phí phúc thẩm: ông Bùi Khắc T và bà Trần Thị H không phải chịu án phí phúc thẩm, ông T và bà H được nhận lại dự phí kháng cáo đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Xuân theo biên lai số AA/2016/0004623 lập ngày 27/3/2018.

Tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm được giữ lại để tiếp tục giải quyết vụ án.

4. Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày Tòa tuyên án.

Cỡ chữ