- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NGUYỄN THỊ L - LÊ TUẤN A"
- Tòa quyết gì? 1/ - Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 205/2018/HNGĐ-ST Ngày: 28/5/2018 V/v Tranh chấp Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thu Hiền
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phạm Kim Tuyến.
2. Bà Trần Thị Bích Liên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hoài, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung – Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 77/2018/TLST-HNGĐ ngày 09/3/2018 về việc: “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2018/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 5 năm 2018, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1991 – Có mặt
Địa chỉ: 539/8 Hương Lộ 3, phường BHH, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Ông Lê Tuấn A, sinh năm 1986 – Có đơn đề nghị vắng mặt
Địa chỉ: 56/9, Khu phố X, thị trấn Nhà Bè, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 28/02/2018 và bản tự khai ngày 10/4/2018, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị L trình bày:
Bà và ông Lê Tuấn A tự nguyện tìm hiểu và sống chung với nhau từ năm 2009, không có tổ chức đám cưới nhưng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Bình Hưng Hòa, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
Theo bà L vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian đầu, đến năm 2017 thì cả hai bắt đầu phát sinh mâu thuẫn vì ông Tuấn A sống thiếu trách nhiệm với gia đình, vợ chồng thường xuyên cãi vã, không còn yêu thương chia sẻ, chăm sóc lẫn nhau. Bà L và ông Tuấn A đã sống ly thân từ ngày 26/8/2017 đến nay mà vẫn không hàn gắn được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Lê Tuấn A.
Về con chung: Có 01 (một) con chung là trẻ là Lê Ngọc B, sinh ngày 07/6/2015. Sau khi ly hôn bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con và không yêu cầu ông Tuấn A cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà L xác định không có.
Tại bản tự khai ngày 21/5/2018, bị đơn ông Lê Tuấn A trình bày:
Ông Tuấn A xác nhận quá trình kết hôn, mâu thuẫn vợ chồng và có con chung như bà L trình bày là đúng. Ông Tuấn A cũng đồng ý ly hôn vì ông cho rằng mâu thuẫn giữa hai vợ chồng ông đã đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn được.
Về con chung: Có 01 (một) con chung là trẻ là Lê Ngọc B, sinh ngày 07/6/2015. Sau khi ly hôn ông đồng ý giao con cho bà L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông Tuấn A đề nghị không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông Tuấn A xác định không có.
Sau khi trình bày ý kiến, ông Tuấn A không tham dự phiên hòa giải với bà L, đồng thời có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm ngày 28/5/2018. Do đó Tòa án không tiến hành hòa giải được nên mở phiên tòa xét xử hôm nay.
* Phát biểu của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng:
Về hình thức, qua kiểm sát giải quyết vụ án thì từ khi thụ lý đến thời điểm này thấy rằng Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng về phiên tòa sơ thẩm. Tại phiên tòa hôm nay, các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình và tuân thủ nội quy phiên tòa. Việc xét xử vắng mặt bị đơn đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung, qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và qua diễn biến tại phiên tòa hôm nay, nhận thấy yêu cầu khởi kiện của bà L là hoàn toàn có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
Bà Nguyễn Thị L yêu cầu ly hôn với ông Lê Tuấn A. Do ông Tuấn A có địa chỉ cư trú tại 56/9, Khu phố X, thị trấn Nhà Bè, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về thủ tục tố tụng: Ông Lê Tuấn A có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn hôm nay.
Về yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
Bà Nguyễn Thị L xin ly hôn với ông Lê Tuấn A với lý do mâu thuẫn vợ chồng xảy ra từ đầu năm 2017, cả hai sống ly thân từ ngày 26/8/2017 đến nay mà vẫn không hàn gắn được.
Xét, trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, ông Tuấn A cũng đã có bản tự khai xác nhận mâu thuẫn vợ chồng như bà L trình bày là đúng và đồng ý ly hôn. Việc ông Tuấn A xin vắng mặt trong phiên tòa hôm nay cho thấy ông Tuấn A không có thiện chí xây dựng, hàn gắn tình cảm vợ chồng với bà L, do đó có đủ cơ sở xác định mâu thuẫn của hai người là hoàn toàn có thật và khả năng hàn gắn không còn, đời sống hôn nhân đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Nguyễn Thị L đối với ông Lê Tuấn A.
Về con chung: Bà L yêu cầu nuôi con, ông Tuấn A cũng đồng ý giao con chung cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng. Xét trẻ Lê Ngọc B hiện đang còn nhỏ, lại đang trực tiếp do bà L chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian ông Tuấn A và bà L sống ly thân nên việc giao con cho bà L tiếp tục nuôi là phù hợp. Ghi nhận việc bà L không yêu cầu ông Tuấn A cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà L xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông Tuấn A xác định không có. Nếu sau này bà L có yêu cầu sẽ được xem xét trong vụ kiện khác.
Về nợ chung: Bà L và ông Tuấn A cùng xác định không có.
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000 đồng bà Nguyễn Thị L có nghĩa vụ phải nộp, được cấn trừ vào tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai số 0008710 ngày 22/03/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, bà L đã nộp đủ án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35 và Điều 39; khoản 1 Điều 228, Điều 266, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ các Điều 57, 58, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116, 117, 118 và Điều 119 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016;
Tuyên xử:
1/ - Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn:
- Về quan hệ vợ chồng: Bà Nguyễn Thị L được ly hôn với ông Lê Tuấn A.
- Về con chung: Giao bà Nguyễn Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ Lê Ngọc B, sinh ngày 07/6/2015. Ghi nhận việc bà L không yêu cầu ông Tuấn Anh cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Về tài sản chung: Bà L xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông Tuấn A xác định không có. Nếu sau này bà L có yêu cầu sẽ được xem xét trong vụ kiện khác.
- Về nợ chung: Không có.
2/ - Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000 đ (ba trăm ngàn đồng) bà Nguyễn Thị L có nghĩa vụ nộp, được cấn trừ vào tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai số 0008658 ngày 09/3/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhà Bè, bà L đã nộp đủ án phí.
3/- Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
4/- Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TANDTP,VKSNDTP; - VKSND huyện Nhà Bè; - Chi cục THADS huyện Nhà Bè; - UBND phường Bình Hưng Hòa, quận Bình Tân, Tp. Hồ Chí Minh; - Các đương sự; - Lưu HS,VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ LÊ THU HIỀN |