vanban.org

Bản án 205/2017/HSST — Hình sự

TAND Q. Long Biên, TP. Hà Nội Tuyên án 15/08/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội:"Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt: Nguyễn Văn Q 28 (Hai mươi tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/5/2017. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "TTMT - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội:"Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 1 Nghị quyết số 144/2016/QH13 Về lùi hiệu lực thi hành của Bộ…; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 231 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LONG BIÊN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------
Bản án số: 205/2017/HSST
Ngày: 15/8/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, TP. HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Mai Hoa Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Ngọc Đức Ông Nguyễn Văn Cương

- Thư ký phiên toà: Ông Phan Việt Hùng – Thư ký Toà án nhân dân quận Long Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 15/8/2017 tại trụ sở Tổ dân phố số 5, phường Đức Giang, quận Long Biên, TP Hà Nội xét xử lưu động sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 203/2017/HSST ngày 20/7/2017 đối với bị cáo:

NGUYỄN VĂN Q - sinh năm: 1990; HKTT: Thôn H, xã N, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh; Chỗ ở: Không cố định; Trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: đầu bếp; con ông: Nguyễn Văn N và bà: Trần Thị L; TATS: Theo danh chỉ bản số 305 ngày 16/5/2017 của Công an quận Long Biên lập và lý lịch địa phương cung cấp bị cáo chưa có tiền án tiền sự.

Bị cáo bị bắt ngày 09/5/2017. (Có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 h ngày 09/5/2017, tổ công tác Công an phường Ngọc Lâm, quận Long Biên, TP Hà Nội làm nhiệm vụ tại ngõ 399, phố Ngọc Lâm, phường Ngọc Lâm đã phát hiện Nguyễn Văn Q đang đi bộ có biểu hiện nghi vấn. Tiến hành kiểm tra, tổ công tác phát hiện trong túi quần phía trước bên trái của Q có 02 gói giấy bạc màu xanh bên trong chứa chất bột mầu trắng. Q khai nhận đây là ma túy heroin, Q mua về để sử dụng. Sau đó, tổ công tác đưa Q cùng tang vật về trụ sở giải quyết.

Tại bản kết luận giám định số 3622 ngày 13/6/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 02 gói đều là ma túy loại heroin, tổng trọng lượng 0,302 gam.

Tại cơ quan điều tra – Công an quận Long Biên, Nguyễn Văn Q khai nhận: Khoảng 17h30’ ngày 09/5/2017, Q đi xe ôm từ nhà hàng Thu Hà, địa chỉ: Tổ 23, phường Thượng Thanh. quận Long Biên, TP Hà Nội đến khu vực vườn hoa Ngọc Lâm mục đích mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Đến nơi, Q đi bộ vào ngõ 399 Ngọc Lâm gặp một nam thanh niên không quen biết tự giới thiệu tên Chung. Q hỏi mua ma túy của Chung và Chung đã bán cho Q 02 gói ma túy với giá 300.000 đồng. Mua xong, Q cất ma túy vào túi quần phía trước bên trái rồi đi bộ ra vườn hoa Gia Lâm để thuê xe ôm đi tìm nơi sử dụng. Khi Q đi đến đầu ngõ 399 Ngọc Lâm thì bị cơ quan công an kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.

Với đối tượng bán ma túy cho Q tên Chung: Do Q khai không biết tên thật, tuổi, địa chỉ của người này đồng thời, qua rà soát cơ quan công án không phát hiện được đối tượng có tên, đặc điểm như Q mô tả. Vì vậy cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận Long Biên chưa có điều kiện để làm rõ, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Tại phiên tòa, bị cáo Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo theo đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.

Bị cáo khẳng định 02 gói ma túy loại Heroin trọng lượng 0,302 gam Công an thu giữ là của bị cáo mua để sử dụng, không có mục đích nào khác.

Tại bản cáo trạng số 210/CT- VKS ngày 17/7/2017 của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã truy tố Nguyễn Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa thấy rằng: Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Q đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 194; điểm p Khoản 1 Điều 46; Điều 33 của BLHS, Điều 76 BLTTHS, Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội về việc lùi hiệu lực thi hành của Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về hình phạt: đề nghị xử phạt bị cáo Q mức án từ 24 đến 26

tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Tang vật: đề nghị cho tịch thu, tiêu hủy 0,302 gam Heroin.

Nói lời sau cùng, Bị cáo biết là sai, vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

- Về hành vi , quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Long Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai báo và xuất trình các tài liệu chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

- Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, bản kết luận giám định, lời khai người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ và nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18h ngày 09/5/2017, tại khu vực ngõ 399 Ngọc Lâm, phường Ngọc Lâm, quận Long Biên, TP Hà Nội, Nguyễn Văn Q đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,302 gam heroin mục đích sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị công an phường Ngọc Lâm, quận Long Biên, Hà Nội kiểm tra phát hiện bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Q có đầy đủ dấu hiệu cấu thành tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố bị cáo về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã cố ý xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy và xâm phạm trật tự an toàn xã hội được Bộ luật Hình sự bảo vệ. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm khắc đối với bị cáo.

Xét về hành vi tính chất mức độ nguy hiểm của tội phạm thấy cần thiết phải áp dụng một mức hình phạt tù cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

Về tình tiết giảm nhẹ TNHS của bị cáo: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải đây là các tình tiết giảm nhẹ TNHS cho bị cáo theo điểm p khoản 1 Điều 46 – BLHS. Mặt khác, áp dụng khoản 2 và điểm a khoản 4 Điều 1 Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội về việc lùi hiệu lực thi hành của Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử viện dẫn các quy định có lợi cho người phạm tội xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.

Đại diện VKS đề nghị mức hình phạt tù đối với bị cáo là có căn cứ phù hợp với nhận định của HĐXX.

Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: “ Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”. Do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không nơi ở cố định. Bản thân bị cáo nghiện chất ma túy, không có tài sản. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với đối tượng tên Chung là người bán ma túy cho Q , Q khai không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể, nên cơ quan điều tra chưa có điều kiện làm rõ, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là có căn cứ.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 99 – Bộ luật Tố tụng hình sự và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội:"Tàng trữ trái phép chất ma túy".

1. Áp dụng khoản 1 Điều 194, Điều 33, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009). Áp dụng khoản 2 và điểm a khoản 4 Điều 1 Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội về việc lùi hiệu lực thi hành của Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 3 Điều 7, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Nguyễn Văn Q 28 (Hai mươi tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/5/2017.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Cho tịch thu tiêu huỷ 0,302 gam Heroin có tại kho tang vật Công an quận Long Biên theo phiếu nhập vật chứng ngày 21/6/2017.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Văn Q phải nộp 200.000 đồng án phí HSST.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 231 và Điều 234 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Án xử công khai sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. N¬i nhËn:

Cỡ chữ