vanban.org

Bản án 205/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Thạch Thị Huỳnh T xin ly hôn với anh Đặng Minh H.

Về quan hệ con chung: Anh Đặng Minh H được tiếp tục nuôi con chung tên Đặng Minh T2, sinh ngày 27/8/2012. Chị T không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh Đặng Minh H cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở chị T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Thạch Thị Huỳnh T xin ly hôn với anh Đặng Minh H.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN H MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 205 /2017/HNGĐ-ST.
Ngày: 28-12-2017
V/v tranh chấp HNGĐ -Xin ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚ ỘNG HÒA XÃ HỘI HỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tr n Thanh ình

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Ngô Văn Mừng.

2. Ông Huỳnh Tấn Khoa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thảo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Lộc - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 12 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 490/2017/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2017 về tranh chấp hôn nhân gia đình “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 203/2017/QĐXX-ST ngày 23 tháng 11 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Thạch Thị Huỳnh T – Sinh năm 1977. Địa chỉ: 271 ấp TL, xã NB, huyện TC, tỉnh Trà Vinh. Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Đặng Minh H – sinh năm 1990. Địa chỉ: Ấp MT, thị trấn ML, huyện CM, tỉnh An Giang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn Thạch Thị Huỳnh T trình bày: Chị và anh H năm 2011 cùng làm công nhân ở thành phố Hồ Chí Minh, quen biết và chung sống với nhau, không có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn tại xã NB, huyện TC, tỉnh TV vào năm 2012. Vợ chồng chung sống đến tháng 8 năm 2013 thì mâu thuẫn nguyên nhân do tính tình không hợp, gia đình anh H không chấp nhận cuộc hôn nhân của chị và anh H nên không cho chị ở và đuổi chị đi, nên vợ chồng không còn chung sống từ đó đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn yêu cầu được ly hôn với anh H.

Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Đặng Minh T2, sinh ngày 27/8/2012 hiện con anh H đang nuôi dưỡng. Khi ly hôn đồng ý để anh H nuôi con, không cấp dưỡng nuôi con

Về quan hệ tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Bị đơn anh Đặng Minh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng anh H không đến tham gia tố tụng, không gửi ý kiến bằng văn bản, nên không có lời khai.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và những người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định của pháp luật. Đối với anh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do, cho thấy anh H chấp hành pháp luật tố tụng chưa nghiêm. Về giải quyết vụ án, hôn nhân giữa chị T và anh H là hợp pháp vì có đăng ký kết hôn. Vợ chồng mâu thuẫn và có thời gian dài và không còn chung sống đã lâu, nên vợ chồng không thể hàn gắn, con chung anh H đang nuôi dưỡng, chị T không yêu cầu nuôi, và không cấp dưỡng nuôi con là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử quyết định.

NHẬN ĐỊNH ỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1].Về thủ tục tố tụng: Anh Đặng Minh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2].Về nội dung

[2.1].Hôn nhân giữa chị Thạch Thị Huỳnh T và anh Đặng Minh H là hợp pháp vì anh, chị có đăng ký kết hôn. Xét tình trạng hôn nhân của anh, chị thấy rằng vợ chồng mâu thuẫn kéo dài và không chung sống với nhau từ năm 2013 đến nay, không ai quan tâm đến nhau. Qua xác minh tại địa phương cũng nhận thấy vợ chồng mâu thuẫn và không còn sống chung nhau nên mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nghĩ nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T.

[2.2].Về quan hệ con chung: có 01 con chung tên Đặng Minh T2, sinh ngày 27/8/2012 hiện con anh H đang nuôi dưỡng, chị đồng ý để anh H nuôi con, không cấp dưỡng nuôi con. Nhận thấy để cho cháu T2 có cuộc sống ổn định nghĩ nên để cháu T2 cho anh H tiếp tục nuôi, chị T không phải cấp dưỡng nuôi con.

[2.3].Về tài sản: Không có.

Về nợ chung: Ghi nhận chị T xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì hai bên phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.

[3].Về án phí hôn nhân sơ thẩm: chị T phải chịu án phí HNST theo quy định.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 147; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Thạch Thị Huỳnh T xin ly hôn với anh Đặng Minh H.

2. Về quan hệ con chung: Anh Đặng Minh H được tiếp tục nuôi con chung tên Đặng Minh T2, sinh ngày 27/8/2012. Chị T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh Đặng Minh H cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở chị T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

3. Về quan hệ tài sản: Không có.

4. Về nợ chung: Ghi nhận chị Thạch Thị Huỳnh T xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì hai bên pH liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.

5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Thạch Thị Huỳnh T pH chịu 300.000đ được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ theo biên lai thu tiền số 0014405 ngày 09/10/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới.

Báo cho đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Đặng Minh H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, thời hạn kháng cáo được tính từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người pH thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ