vanban.org

Bản án 204/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 28/08/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn H 09 (chín) tháng tù, thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày 13-5-2026. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) áo thun vải ngắn tay màu xám trên vai áo có màu đen; 01 (một) quần short… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tấn B tội "Trộm cắp tài sản" - trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11 - TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 204/2026/HS-ST
Ngày 28-8-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Như Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phan Ngọc Hồi;

Ông Trang Thanh Bình.

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Xuân, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11- Tây Ninh tham gia phiên tòa: ông Trần Văn Tới - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 - Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 185/2026/TLST-HS ngày 21 tháng 7 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 209/2026/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2026 đối với bị cáo:

Nguyễn Tấn H, sinh ngày 15-8-2005 tại tỉnh Tây Ninh; nơi thường trú: ấp P, xã D, tỉnh Tây Ninh; nơi ở hiện tại: Không có nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: không có; trình độ học vấn: 00/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị Hồng O; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: không có; tiền sự: tại Quyết định số 36/QĐ-XPVPHC ngày 08-5-2026 của Công an xã D, tỉnh Tây Ninh xử phạt Nguyễn Tấn H 2.500.000 (hai triệu năm trăm nghìn) đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13-5-2026, chuyển sang tạm giam từ ngày 22-5-2026 cho đến nay tại Phân trại tạm giam T thuộc trại tạm giam Công an tỉnh T; có mặt.

- Bị hại: bà Ngô Thị M, sinh năm 1966; nơi cư trú: ấp B, xã L, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ ngày 11-5-2026, Nguyễn Tấn H đi bộ đến khu vực xã L, tỉnh Tây Ninh để tìm kiếm tài sản của người dân sơ hở để lấy trộm, khi đi đến nhà bà Ngô Thị M, sinh năm 1966, cư trú tại ấp B, xã L, tỉnh Tây Ninh không có người trong coi, cửa khép hờ thì H lén lút đi vào trong nhà lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A38; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9A và 01 con heo đất bên trong có số tiền 450.000 đồng. Sau khi lấy trộm được tài sản, H bỏ điện thoại và tiền trong túi, còn con heo đất H làm thủng để lấy tiền rồi bỏ lại phía sau nhà bà M, H đi bộ trên các tuyến đường thuộc xã L để tìm nơi bán tài sản nhưng chưa bán được. Lúc này H thấy Công an đi tuần tra, sợ bị phát hiện H vứt bỏ 02 điện thoại xuống lề đường rồi bỏ chạy nên Công an đuổi theo và mời H làm việc, H khai nhận số tiền 450.000 đồng trong túi có được do vừa trộm cắp tài sản, đồng thời chỉ chỗ vứt 02 điện thoại vừa trộm cắp. Cùng thời điểm bà M đến Công an xã L trình báo sự việc. Đến ngày 13-5-2026, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với H (Bút lục số 03-04; 113-114; 127-130).

* Kết quả định giá tài sản:

- Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 06/KL-HĐĐG ngày 21-5-2026 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự tỉnh Tây Ninh, kết luận:

+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A38, số Iemi1 863017065660599, số Iemi2 863017065660581 đã qua sử dụng, có giá trị 1.900.000 đồng;

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9A, màu xanh, màn hình có vết nứt ngang, ốp lưng phía sau nhiều vết nứt, số Iemi1 869075068770264, số Iemi2 869075068770272, đã qua sử dụng, có giá trị 850.000 đồng;

+ 01 con heo đất màu sơn vàng, kích thước dài 15cm – vòng bụng 20cm, có giá trị 14.000 đồng.

Tổng cộng: 2.764.000 đồng (Bút lục số 63-64)

* Kết quả kê biên tài sản: qua xác minh bị cáo Nguyễn Tấn H không có tài sản riêng có giá trị nên không tiến hành kê biên.

* Phần trách nhiệm dân sự:

- Bà Ngô Thị M đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Bản cáo trạng số: 93/CT-VKSTNH-KV, ngày 15 tháng 7 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Tấn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11, tỉnh Tây Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn H phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn H từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù.

- Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật. Ghi nhận bà Ngô Thị M đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, bà M không yêu cầu bị cáo H bồi thường thiệt hại.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo H không có lời nói sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Hành vi của bị cáo thể hiện như sau:

Vào khoảng 14 giờ 00 phút, ngày 11-5-2026, tại ấp B, xã L, tỉnh Tây Ninh, Nguyễn Tấn H có hành vi lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A38; 01 điện thoai di động nhãn hiệu Redmi 9A và 01 con heo đất bên trong có số tiền 450.000 đồng của bà Ngô Thị M. Tổng cộng giá trị tài sản bị cáo H chiếm đoạt là 3.214.000 đồng. Hành vi của bị cáo H có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Do đó, bản Cáo trạng số: 93/CT-VKSTNH-KV ngày 15-7-2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Nguyễn Tấn H và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có cơ sở, đúng pháp luật.

Vụ án mang tính chất ít nghiêm trọng, hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến khách thể là quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ đồng thời gây mất trật tự tại địa phương, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do chính hành vi của mình gây ra.

Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.

Tình tiết tăng nặng: không có.

Tình tiết giảm nhẹ: bị cáo H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Nhân thân: bị cáo Nguyễn Tấn H có 01 tiền sự, ngày 08-5-2026 Công an xã D, tỉnh Tây Ninh ra Quyết định số 36/QĐ-XPVPHC xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, bị cáo chưa nộp phạt, thể hiện ý thức xem thường pháp luật, không lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho bản thân lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.

Về hình phạt áp dụng: để thỏa mãn nhu cầu tiêu xài của cá nhân mà không phải lao động vất vả, bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác, nên xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, nhằm mục đích cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành những công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời phục vụ cho công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm.

Bị cáo Nguyễn Tấn H không có nghề nghiệp, không có tài sản có giá trị, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A38, số Iemi1 863017065660599, số Iemi2 863017065660581 đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 9A, màu xanh, màn hình có vết nứt ngang, ốp lưng phía sau nhiều vết nứt, số Iemi1 869075068770264, số Iemi2 869075068770272, đã qua sử dụng và số tiền 450.000 đồng, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị hại là phù hợp quy định pháp luật.

Đối với 01 (một) áo thun vải ngắn tay màu xám trên vai áo có màu đen; 01 (một) quần short vải màu xanh; 01 (một) đôi dép màu xanh là vật chứng vụ án, bị cáo không yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: bị cáo Nguyễn Tấn H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn H 09 (chín) tháng tù, thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày 13-5-2026.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) áo thun vải ngắn tay màu xám trên vai áo có màu đen; 01 (một) quần short vải màu xanh; 01 (một) đôi dép màu xanh.

3. Về án phí: căn cứ các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Tấn H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng những người tham gia tố tụng vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 34 và 36 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ